Tông Luận

《宗論》 zōng lùn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi: Pháp luận. Chỉ cho sự tranh luận về Tông Nghĩa giữa 2 Tông Phái khác nhau, gọi là Tông Luận. Sự tranh luận giữa Ngoại Đạo và Phật giáo ở Ấn Độ, sự xung đột giữa Đạo GiáoNho GiáoTrung Quốc, các cuộc tranh luận giữa 2 thứ Tông Giáo nội, ngoại này đối với sự thịnh suy của Pháp Môn có mối quan hệ rất lớn, cần phải hết sức biện luận. Còn giữa các Tông Phái nội bộ của Phật giáo có phát sinh tranh luận, nếu vì mục đích làm sáng tỏ giáo nghĩa do tông mình thành lập thì được, còn nếu cứ khư khư cố chấp những điều khác biệt nhỏ nhặt thì cái gọi là Tông Luận chỉ có hại chứ không Lợi Ích gì. Tại Ấn Độ, Bồ Tát Đề Bà soạn Quảng Bách Luận nhằm phá trừ các chấp trước của Tiểu Thừa, Ngoại Đạo; Bồ Tát Hộ Pháp trong 7 ngày đã thu phục 100 vị Luận sư của Tiểu Thừa; Bồ Tát Thế Thân ban đầu tu tập Tiểu Thừa, soạn luận Câu xá, nói sơ lược về luận Đại tì Bà Sa của Hữu Bộ, trong văn trường hàng(văn xuôi) đã trích lấy nghĩa lí của Kinh bộ để sửa chữa học thuyết thiên lệch của Hữu Bộ, Luận sư Chúng hiền nhân đó mới soạn luận Thuận chính lí để tranh biện lại. Còn trong Đại Thừa thì sự tranh luận về Hữu, Không giữa 2 Luận sư Hộ PhápThanh Biện, đều có thể gọi là Tông Luận. Ngoài ra, sự tranh luận phát sinh trong nội bộ của một tông, như Sơn Gia, Sơn ngoại trong tông Thiên thai ở đời Tống, cũng thuộc về Tông Luận. Nhưng cũng có thuyết cho rằng loại đối luận trong một tông (phái) này chỉ có thể được xem là tranh luận, chứ không phải thuộc về Tông Luận.