Tối Hậu Thân

《最後身》 zuì hòu shēn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm, Pàli: Antima-deha. Cũng gọi: Tối Hậu Sinh, Tối Hậu Hữu, Tối hậu mạt thân. Chỉ cho thân cuối cùng trong các thân Sanh Tử. Theo Tiểu Thừa thì Tối Hậu Thân là chỉ cho bậc A La Hán đã dứt tất cả Phiền Não Kiến, Tư, chứng Niết Bàn vô dư y; còn theo Đại Thừa thì Tối Hậu Thân là chỉ cho hàng Bồ Tát Đẳng Giác sắp Chứng Quả Phật. Về sự dị đồng(khác nhau và giống nhau) giữa Bồ Tát Tối Hậu ThânBồ Tát Nhất Sinh sở hệ(Bồ Tát Nhất Sinh Bổ Xứ) có nhiều thuyết khác nhau. Theo luận Đại tì Bà Sa quyển 171 thì thân Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra trong cung vua Tịnh phạn khi Ngài từ cõi trời Đổ-sử-đa(Đâu suất) giáng sinh xuống Nhân Gian chính là Tối Hậu Thân Bồ Tát, thân trụ ở cõi trời Đổ sử đa là Nhất Sinh sở hệ Bồ Tát. Theo Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển 7, phần đầu, trong quá trình 3 A Tăng Kì kiếp, từ khi Bồ Tát tu hành đến lúc thành quả Phật thì hàng Địa TiềnA Tăng Kì kiếp thứ nhất là đời thứ nhất, hàng Sơ địa đến Thất Địa trong A Tăng Kì kiếp thứ 2 là đời thứ 2, từ Bát địa trở lên trong A Tăng Kì kiếp thứ 3 là đời thứ 3, cho nên từ Thất Địa về trước thuộc Nhất Sinh sở hệ Bồ Tát, còn từ Bát địa về sau thì thuộc Tối Hậu Thân Bồ Tát. [X.kinh Đại thiệnkiếnvương trong TrungahàmQ. 14.; phẩm Phương Tiện kinh PháphoaQ. 1.; phẩm Thụ Kí Q. 3.; kinhBồ tát địa trìQ. 10.; luận CâuxáQ. 5.; luận Du giàsưđịaQ. 37., 47; luận Hiểndươngthánh giáoQ. 8.; Đạithừanghĩa chươngQ. 17.; Du Già luậnlượctoảnQ. 11.; Pháphoa kinh huyền nghĩaQ. 4. hạ; Thành Duy Thức Luận thuật kíQ. 5., phần cuối].