Tô Tất Địa Kinh

《蘇悉地經》 sū xī dì jīng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Susiddhikara-mahàtantrasàdhanopàyika-paỉala. Cũng gọi: Tô Tất Địa yết la kinh, Tô Tất Địa yết ra kinh, Tô tất đế yết la kinh, Diệu Thành Tựu pháp, Diệuthànhtựutácnghiệp kinh. Kinh, 3 quyển, do ngài Thâu ba Ca La (tức Tamtạng Thiệnvôúy) dịch vào năm Khai nguyên thứ 4 (726) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Kinh này nói rộng về các nghi tắc Thành Tựu Tất Địa 3 bộ: Phật bộ, Liên Hoa Bộ và Kim Cương Bộ. Kinh này và kinh Đại nhật, kinh Kim Cương đính là 3 bộ kinh lớn của Mật giáo. Nội dung kinh này bao gồm các phần như: Trì tụng, Quán đính, Kì thỉnh, Hộ Ma, Thành Tựu, Thời phần... Kinh này trong Đại chính tạng tập 18 gồm có 3 loại bản in, đều là 3 quyển, tức bản Cao li 37 phẩm, bản đời Tống 38 phẩm và bản Nhật bản 34 phẩm. Bản Nhật do Tổ khai sáng tông Thiên thai Nhật bản là ngài Tối Trừng thỉnh từ Trung Quốc về Nhật vào niên hiệu Trinh nguyên năm đầu (805) đời vua Thuận Tông nhà Đường. Về sau, ngài Viên Trân lại thỉnh bản tiếng Phạm mang về, đồng thời soạn bộ Tô Tất Địa yết la kinh lược sớ 7 quyển để giải thích về ý nghĩa trong văn kinh. Đối với Thai Mật(Mật giáo do tông Thiên thai Nhật bản truyền) thì 2 kinh Đại nhật và Kim Cương đính là kinh Thai (tạng); Kim (cương) nhi nhị. Trái lại, kinh này giải thích ý chỉ sâu xa của Kim Cương, Thai tạng Lưỡng Bộ Bất Nhị. [X. Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 12.; Trinh nguyên tân định Thích Giáo Mục Lục Q. 14.; Phật Tổ Thống Kỉ Q. 29.; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q. 5.].