Tịnh Độ Tông

《淨土宗》 jìng tǔ zōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Jōdo-shū: Tông Phái tin vào Bản Nguyện của đức Phật A Di Đà (Sanskrit: Amitābha, ), và tuyên thuyết rằng nhờ xưng Danh Hiệu của đức Phật ấy mà tất cả Chúng Sanh đều được Vãng Sanh về Thế Giới Cực Lạc Tịnh Độ (). Vị Tông TổPháp Nhiên Phòng Nguyên Không (, Hōnenbō Genkū). Tổng Bản Sơn (ngôi chùa tổ) của Tông Phái này là Tri Ân Viện (, Chion-in), hiện tọa lạc tại Higashiyama-ku (), Kyōto-shi (). Vào tháng 3 năm đầu (1175) niên hiệu An Nguyên (), khi đang tu hành trên Tỷ Duệ Sơn (, Hieizan), Nguyên Không nhân đọc được bản Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ () của Thiện Đạo (), có được niềm tin sâu xa, nên ông quay về với Pháp Môn Chuyên Tu Niệm Phật. Sau đó, ông hạ sơn, chuyển đến Tây Sơn Quảng Cốc (西), nhưng không bao lâu sau lại dời về vùng Cát Thủy (, Yoshimuzu), Lạc Đông (, Rakutō) và chuyên tâm Bố Giáo tại đây. Đến năm thứ 9 (1198) niên hiệu Kiến Cửu (), ông soạn bộ Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập () để thể hiện lập trường cứu độ kẻ Phàm Phu, lấy 3 bộ Vô Lượng Thọ Kinh (), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (), A Di Đà Kinh () cũng như Vãng Sanh Luận () của Thế Thân (Sanskrit: Vasubandhu, ) làm kinh luận y cứ cho Tông Phái, và chọn việc an tâm, Khởi Hành, Tác Nghiệp làm phương pháp tu hành. Tư tưởng của ông đã tạo ảnh hưởng to lớn đối với xã hội đương thời. Đặc biệt, nó đã kích động các Tông Phái của Phật Giáo cũ, làm gia tăng số lượng người ủng hộ Pháp Môn Niệm Phật và tạo ác cảm không ít. Sự đàn áp từ sự kiện của Trú Liên () cũng như An Lạc Phòng Tuân Tây (西) ngày càng trở nên mãnh liệt, dẫn đến đình chỉ Niệm Phật; vì vậy vào năm đầu (1207) niên hiệu Thừa Nguyên (), từ Nguyên Không trở xuống cho đến nhóm Đệ Tử Thân Loan (, Shinran) đều bị lưu đày (gọi là Pháp Nạn Thừa Nguyên); nhưng từ đó số lượng người ủng hộ như hàng võ sĩ, nông dân lại tăng lên cao hơn. Vào năm thứ 2 (1212) niên hiệu Kiến Lịch (), khi Nguyên Không qua đời, vị môn hạ trưởng lão Pháp Liên Phòng Tín Không () lên kế thừa, muốn thống lãnh giáo đoàn, nên về mặt đối ngoại ông đã tạo Sự Luận tranh đối kháng với vị tổ của Trường Lạc Tự (, Chōraku-ji)Long Khoan (). Chính vì vậy, giáo đoàn gặp Pháp Nạn Gia Lộc (祿), miếu thờ của Nguyên Không bị phá hoại, Long Khoan thì bị lưu đày đến địa phương Lục Áo (, Mutsu); nhưng kết quả việc này đã tạo sự khích lệ vô cùng to lớn cho sự phát triển Tịnh Độ Giáo ở vùng Quan Đông (, Kantō). Dòng phái của Long Khoan vốn chủ trương Đa Niệm Nghĩa () thì được nhóm Trí Khánh () thọ dung; riêng Hạnh Tây (西), người chủ trương Nhất Niệm Nghĩa (), thì bị lưu đày đến Nhất Khi (), nhưng lại được nhóm Minh Tín () ủng hộ. Dòng phái của Trường Tây (西), người chủ trương Chư Hạnh Bổn Nguyện Nghĩa () cũng hưng thạnh một thời, nhưng dần dần suy tàn. Mặt khác, vị tổ của Môn Đồ vùng Tử Dã (, Murasakino)Nguyên Trí () lại khuyến khích triển khai hoạt động báo ân cho Nguyên Không, tạc bức tượng Phật A Di Đà (hiện an trí tại Ngọc Quế Tự [] thuộc Shiga-ken) để Kết Duyên với mọi người, Nỗ Lực phục hưng Tri Ân Viện và có được số lượng Tín Đồ khá đông. Bên cạnh đó, Chứng Không (), vị tổ của Tây Sơn Nghĩa (西), thì hoạt động dựa trên bối cảnh thế lực của Từ Viên (), làm cho Tịnh Độ Giáo thẩm thấu vào trong tầng lớp võ sĩ và Quý Tộc. Như vậy, sau khi Nguyên Không qua đời, giáo đoàn Chuyên Tu Niệm Phật đã phân hóa thành từng nhóm khác nhau và trở Thành Thời Đại Không thống nhất về mặt chính trị cũng như tổ chức giáo đoàn. Lương Trung (), Đệ Tử của Biện Trường ()—vị tổ của Trấn Tây Nghĩa (西) vốn hoạt động ở vùng Cửu Châu (, Kyūshū), đã đi qua vùng kinh đô Kyōto, Tín Nùng (, Shinano), xuống Quan Đông (, Kantō), được cả dòng họ Thiên Diệp (, Chiba) quy y theo và giáo hóa khắp các nơi; nhưng trở thành bất hòa từ vấn đề kinh tế tại đây nên ông tiến về vùng Liêm Thương (, Kamakura), được Đại Phật Triêu Trực () quy y theo, sáng lập Ngộ Chơn Tự () và xác lập cơ sở ở địa phương này. Ngay như tu sĩ của các Tông Phái khác cũng tín nhiệm ông, nên ông rất nổi tiếng; nhưng vì cao tuổi và để sửa đổi lại những điều không thống nhất trong giáo nghĩa Tịnh Độ Tông, ông xuống Kyōto và cùng hòa hợp với Tín Huệ (), Đệ Tử của Nguyên Trí (). Từ đó, ông thống nhất với Môn Đồ vùng Tử Dã, tạo thành cứ địa cho Dòng Trấn Tây Chánh Thống. Sau khi Lương Trung qua đời, Lương Hiểu () của Bạch Kỳ Phái (), Tánh Tâm (, tức Tánh Chơn []) của Đằng Điền Phái (), Tôn Quán () của Danh Việt Phái (, cả ba được gọi là Ba Phái Quan Đông), Nhiên Không () của Nhất Điều Phái (), Đạo Quang () của Tam Điều Phái (), Từ Tâm () của Mộc Phan Phái (, cả ba được gọi là Ba Phái Kinh Đô) phân hóa rõ rệt, mỗi người tự Nỗ Lực mở rộng giáo tuyến cho giáo phái mình. Khi chủ trương này càng lúc càng mạnh mẽ, ba đời của Tịnh Độ Tông gồm Nguyên Không, Biện Trường, Lương Trung càng được xác định rõ và Dòng Trấn Tây trở thành dòng phái chính của Tịnh Độ Tông. Riêng cuộc luận tranh giữa Danh Việt Phái và Bạch Kỳ Phái vẫn tiếp diễn cho đến thời đại Minh Trị (, Meiji). Danh Việt Phái lấy Fukushima-ken () làm cứ địa để mở rộng giáo tuyến ở vùng đông bắc, còn Bạch Kỳ Phái thì mở rộng Bố Giáo ở trung tâm vùng Quan Đông. Đặc biệt, đến Thời Đại Thất Đinh (, Muromachi), có vị Học Tăng Tây Liên Xã Liễu Dự Thánh Quynh (西) xuất hiện, đưa ra thuyết Ngũ Trùng Tương Truyền () để hệ thống hóa lại toàn bộ Huyết Mạch cũng như giáo nghĩa và tạo quyền uy đối với các Tông Phái khác. Sau đó, Đệ Tử ông là Đại Liên Xã Tây Dự Thánh Thông (西) đã sáng lập Tăng Thượng Tự () để nuôi Dưỡng Nhân tài. Hành Liên Xã Đại Dự Khánh Trúc (), Đệ Tử của Thánh Thông, tiến về kinh đô Kyōto và trú tại Tri Ân Tự (, Chion-ji). Nhóm Đệ Tử của Thông Liên Xã Thán Dự Lương Triệu (), người khai sáng Hoằng Kinh Tự () ở Phạn Chiểu (), tiến về địa phương Tam Hà (, Mikawa), sáng lập Đại Ân Tự (, Daion-ji), Đại Thọ Tự (, Daijū-ji), Tín Quang Minh Tự (, Shinkōmyō-ji), lấy những nơi này làm bàn đạp tiến về kinh đô Kyōto; cuối cùng Bạch Kỳ Phái làm chủ thế lực chiếm cứ toàn bộ vùng này. Sau đó, Tri Ân ViệnTri Ân Viện tranh giành ngôi vị chủ tôn. Tịnh Hoa Viện (), căn cứ địa của Dòng Nhất Điều, được sự hộ trì của dòng họ Vạn Lý Tiểu Lộ () và trở nên hưng thịnh, nhưng lại bị Quý Tộc hóa. Trong lúc đó, Lương Như ()Đệ Tử của Kính Pháp ()—cũng tận lực giáo hóa hàng thứ dân ở địa phương Việt Tiền (, Echizen), còn Long Nghiêu ()Đệ Tử của Định Huyền ()—thì giáo hóa tại vùng Cận Giang (, Ōmi) và mở rộng giáo tuyến của họ. Như vậy, Tịnh Độ Tông đã được tổ chức hóa về mặt giáo nghĩa, tại các địa phương đều hình thành cơ sở hoạt động, nhưng không thống nhất. Nhân vật tổng hợp thống nhất toàn bộ những thế lực phân tán như vậy là Trinh Liên Xã Nguyên Dự Tồn Ứng (), người từng lấy quyền lực của Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (, Tokugawa Ieyasu) làm thế lực. Tồn Ứng chế ra Chế Độ Đàn Lâm (), dựa trên Pháp Độ Nguyên Hòa (, các Pháp Độ của Tịnh Độ Tông) để xác lập Chế Độ Bản Mạt (, chế độ chùa tổ chùa con) và lập ra giáo đoàn mang tính hữu cơ. Tuy nhiên, dần dần nảy sinh Hiện Tượng sa đọa, phóng túng và Thế Tục hóa trong giáo đoàn. Đến thời Trung Kỳ của Thời Đại Giang Hộ (, Edo), lại xuất hiện những vị tăng xa lìa Thế Tục như Đàn Thệ (), Tồn Dịch (), cuộc vận động Hành Trì giới luật của nhóm Linh Đàm () cũng bộc phát và đã đem lại tính cách cách tân cho giáo đoàn. Về mặt giáo học, có nhóm Lương Định (), Văn Hùng () xuất hiện, tạo sự Chú Tâm của mọi người, nhưng cuối cùng cũng không có ảnh hưởng nào. Khi chính phủ Duy Tân () ra đời, giáo đoàn đã gặp phải làn sóng Phế Phật Hủy Thích. Chế Độ Tri Ân Viện Môn Tích () bị phế chỉ và phải chịu biết bao thử thách đồng dạng với các Tông Phái khác. Tuy nhiên, nhờ sự hoạt động mạnh mẽ của nhóm Phước Điền Hành Giới (), giáo đoàn đã vượt qua thời kỳ hỗn loạn. Đến hậu bán thời đại Minh Trị (, Meiji), Tịnh Độ Tông đã xác lập thể chế với tư cách là giáo đoàn cận đại. Về mặt học vấn, có những học giả lãnh đạo giới Phật Giáo Học như Vọng Nguyệt Tín Hanh (), Độ Biên Hải Húc () xuất hiện, đã tạo nên thời đại hoàng kim của Tịnh Độ Tông từ niên hiệu Đại Chánh (, Taishō, 1912-1926) đến Chiêu Hòa (, Shōwa, 1926-1989). Ngoài ra, cuộc vận động Tín Ngưỡng bắt đầu dấy khởi như Cọng Sanh Hội () của Chuy Vĩ Biện Khuông (), Quang Minh Hội () của Sơn Khi Biện Vinh (), v.v., tập trung sự quan tâm của đa số quần chúng. Sau cuộc chiến tranh Thế Giới lần thứ II, phát sanh vấn đề độc lập phân phái trong Tịnh Độ Tông và cuối cùng vào năm thứ 36 (1961) niên hiệu Chiêu Hòa thì Tông Phái này đã thống Nhất Thành một thể. Hiện tại theo bản Tôn Giáo Niên Giám (, năm 1997) của Bộ Văn Hóa Nhật Bản, còn lại các phái như sau: Tịnh Độ Tông () có 7080 ngôi chùa, Tịnh Độ Tông Trấn Tây Thâm Thảo Phái (西) có 283 ngôi chùa, Tịnh Độ Tông Tây Sơn Thiền Lâm Tự Phái (西) có 372 ngôi chùa, và Tây Sơn Tịnh Độ Tông (西) có 603 ngôi chùa. Một số ngôi tự viện trung tâm, nổi tiếng của Tông Phái này có Tri Ân Viện (, Chion-in, Kyōto-shi); Tăng Thượng Tự (, Zōjō-ji, Kyōto-to); Kim Giới Quang Minh Tự (, Konkaikōmyō-ji, Kyōto-shi); Bách Vạn Biến Tri Ân Tự (, Hyakumanbenchion-ji, Kyōto-shi); Thanh Tịnh Hoa Viện (, Shōjōkein, Kyōto-shi); Thiện Đạo Tự (, Zendō-ji, Fukuoka-ken); Quang Minh Tự (, Kōmyō-ji, Kanagawa-ken); Thiện Quang Tự (, Zenkō-ji, Nagano-ken); Thiền Lâm Tự (, Zenrin-ji, Kyōto-shi); Thệ Nguyện Tự (, Seigan-ji, Kyōto-shi), v.v.