Tịnh Bình

《淨瓶》 jìng píng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: bình bằng gốm sứ hay kim thuộc, đựng nước sạch để uống hoặc rửa, còn gọi là Thủy Bình (), Tháo Bình (), Phạn ngữ là kuṇḍikā, âm dịch là Quân Trì (), là vật dụng thường mang bên mình của vị Tỷ Kheo. Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy () có giải thích rằng: “Tịnh Bình, Phạm Ngữ Quân Trì, thử vân bình, thường trữ thủy tùy thân, dụng dĩ tịnh thủ (, Tịnh Bình, tiếng Phạn là Quân Trì, Tàu gọi là bình, thường đựng nước mang theo bên mình, dùng để rửa sạch tay).” Đặc biệt Tịnh Bình này cũng là vật mang bên mình của Phạm Thiên, Bồ Tát Quán Thế Âm Ngàn Tay, v.v. Hình Tượng đức Bồ Tát Quán Thế Âm cầm Tịnh Bình và nhành Dương Liễu rất phổ biến ở Việt Nam và các nước Phật Giáo Đại Thừa thuộc Châu Á. Trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni () có đề cập đến Tịnh Bình như là một trong 40 vật cầm trên tay của đức Quan Âm Ngàn Tay. Hơn nữa, trong chư tôn của Thai Tạng Giới Khinh Trà La (), Di Lặc Bồ Tát () của Bát Diệp Viện () ở giữa, Bất Không Quyên Sách Bồ Tát () cũng như Tỳ Câu Chi Bồ Tát () của Quan Âm Viện (), Thập Nhất Diện Quán Tự Tại Bồ Tát () của Tất Địa Viện (), và Hỏa Thiên () của Kim Cang Bộ (), v.v., đều cầm Quân Trì. Trong bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh của thi hào Nguyễn Du (, 1765-1820) có đoạn rằng: “Tiết đầu thu lập đàn giải thoát, nước Tịnh Bình rưới hạt Dương Chi, muôn nhờ Đức Phật từ bi, giải oan cứu khổ độ về Tây Phương.” Hay như trong Chánh Nguyên Lược Tập (, CBETA No. 1587) quyển 15 có câu: “Hồ hải Thiền Lưu, Thập Phương cọng tập, Quan Âm y cựu Tịnh Bình, Thế Chí biệt khai sanh diện (, hồ biển dòng Thiền, mười phương cùng gặp, Quan Âm như cũ Tịnh Bình, Thế Chí riêng bày mặt thật).”