Thược

《勺》 sháo

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Chỉ cho cái phễu, cái môi được sử dụng khi tu Pháp Hộ ma trong Mật giáo. Có 2 loại phễu lớn và phễu nhỏ. -Loại phễu lớn(cũng gọi là Chú thược) dùng để rót vật cúng như Tô Du vào lò. - Loại phễu nhỏ(cũng gọi là Tả thược, Tế thược) thì dùng để rót vật cúng sang phễu lớn, hay rót trực tiếp vào trong lò.Cứ theo Kim Cương đính Du Già Hộ Ma nghi quĩ thì phễu lớn có hình dáng giống như quả lựu, chiều dài kể cả phễu và cán là 1 thước 8 tấc (Tàu); phễu nhỏ hình tròn, chiều dài bằng với phễu lớn. Phễu nhỏ hình tròn biểu thị đức viên mãn của Phật, phía trong phễu có khắc hình hoa sen nở 8 cánh, hoặc khắc chày Kim Cương; hoa sen nở tượng trưng cho Đại nhật của Thai tạng, chày Kim Cương, tức chày 5 chĩa, tượng trưng cho Đại nhật củakim cương. Cũng có khi vẽ bánh xe báu, tức là hình Tam Muội da của đức Đại nhật, biểu trưng cho quả thể của Phổ Môn, cho nên dùng hình tròn. Phễu lớn có hìnhquả lựu, lấy ý nghĩa bên trong quả lựu có rất nhiều hột, tượng trưng cho Kim Cương tát đóa có đầy đủ muôn đức; phía trong phễu khắc chày 3 chĩa, là hình Tam Muội da của Kim Cương tát đóa, tức là tâm Bồ Đề thanh tịnh tiêu biểu cho tâm, Phật và Chúng Sinh cả 3 đều Bình Đẳng. Lại vì phễu nhỏ biểu thị cho quả của Đạinhật, còn phễu lớn thì biểu thị cho đức Nhân của Kim Cương tát đóa, cho nên phễu lớn không được trực tiếp rót các vật cúng như Tô Du(dầu)... mà trước phải dùng phễu nhỏ rót vào phễu lớn, tức hàm ý là Kim Cương tát đóa nhận lãnh giáo sách của đức Tì Lô Giá Na mà thi hành sự nghiệp Hộ Ma.[X. kinh Kim Cương đính Du Già trung lược xuất Niệm Tụng Q. 4.; phẩm Bổ khuyết thiểu pháp trong kinh Tô Tất Địa yết ra Q. hạ; Đại nhậtkinh sớ Q,20; Hộ Ma Bí Yếu sao Q. 6.].