Thung Huyên

《椿萱》 chūn xuān

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: Thung hay xuân (椿) là loại cây cao lá rụng thuộc Khoa Chiên Đàn (), gỗ cứng, thường dùng làm khí cụ rất tốt. Trong Trang Tử (), phần Tiêu Dao Du () có đoạn rằng: “Thượng cổ hữu đại Thung giả, dĩ bát thiên tuế vi Xuân, bát thiên tuế vi Thu (椿, thời xưa có cây thung lớn, lấy tám ngàn năm làm một mùa Xuân, tám ngàn năm làm một mùa Thu)”; vì vậy sau này cây Thung được dùng thể hiện sự trường thọ và mượn thay thế cho người cha. Nơi người cha ở được gọi là Thung Đình (椿), Thung Đường (椿) hay Thung Phủ (椿); cho nên người ta hay dùng câu “Thung Đường Trường Thanh (椿, Cha Lành Sống Mãi [nhà có cây thung xanh mãi])” để chúc thọ cho phụ thân. Bên cạnh đó, Huyên () là loại cây cỏ sống lâu năm, Huyên Thảo () là loại Kim Châm (), tương truyền khi ăn vào thì làm cho người ta quên đi ưu sầu, phiền muộn; nên được gọi là Vong Ưu Thảo (, Cỏ Quên Buồn) và thường được dùng thay thế cho người mẹ. Nơi người mẹ cư ngụ được gọi là Huyên Đường (), tức là nơi có trồng nhiều loại cỏ huyên để giúp cho mẹ quên đi mọi ưu phiền. Nếu như cả cha lẫn mẹ đều song toàn, tức vẫn còn sống thọ, Thế Gian vẫn thường dùng câu chúc thọ là “Thung Huyên Tinh Mậu (椿, Cha Mẹ Cùng Thọ [cây Thung và cây Huyên cùng tươi tốt])”. Trong bài thơ Tống Từ Hạo () của Mâu Dung () nhà Đường có câu: “Tri quân thử khứ tình thiên cấp, đường thượng Thung Huyên tuyết mãn đầu (椿滿, Biết người đi mãi tình ngăn cách, nhà vắng mẹ cha tóc bạc đầu)”. Hay trong Nhất Chi Hoa (), Tử Đệ Mỗi Tâm Kí Thanh Lâu Thọ Nhân Khúc () của Thang Thức () nhà Minh có đoạn: “Thung Huyên suy mại, tùng cúc tiêu điều (椿, Mẹ cha suy yếu, tùng cúc tiêu điều)”. Hoặc trong bài Mẫu Đơn Đình () của Thang Hiển Tổ () nhà Minh cũng có câu: “Đương kim sanh hoa khai nhất hồng, nguyện lai sanh bả huyên thung tái phụng (椿, Ngày nay đơm hoa nở nụ hồng, nguyện đời sau gặp mẹ cha cung phụng).”