Thất Chủng Ngữ
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Bảy loại ngữ(lời nói)mà đức Phật sử dụng khi Thuyết Pháp cho Chúng Sinh nghe, được nêu trong kinh Niết Bàn quyển 35 (bản Bắc). Đó là:
1. Nhân ngữ: Đức Phật ngay nơi nhân hiện tại nói về quả vị lai, như nói Chúng Sinh thích giết hại, cho đến ưa làm theo Tà Kiến, đó chính là nhân, người ấy sẽ chịu Quả Báo Địa Ngục.
2. Quả ngữ: Đức Như Lai ở ngay quả hiện tại mà nói về nhân Quá Khứ, như thấy Chúng Sinh nghèo cùng xấu xí thì nói đó đều do người ấy đời trước Phá Giới, ghen ghét, sân hận, không biết hổ thẹn mà ra.
3. Nhân quảngữ: Như Lai nói một việc từ nhân ở Quá Khứ cho đến quả ở vị lai, như nói 6 nhập xúc ở hiện tại của Chúng Sinh là do nghiệp ở Quá Khứ làm nhân, 6 nhập xúc hiện tại khởi tạo hoặc nghiệp sẽ chiêu cảmquảở quả vị lai.
4. Dụ ngữ: Đức Phật vì Chúng Sinh Độn Căn nên khéo dùng ví dụ để dẫn dắt, như ví dụ thân Phật là Sư Tử Vương.
5. Bất ứng ngữ: Như Lai Thuyết Pháp y cứ vào lí Chân Đế và tục đế, Chân Đế là nói tất cả pháp lìa tính lìa tướng, tất cả đều là Trung Đạo; tục đế thì nói các pháp Thế Gian, xuất Thế Gian mỗi pháp đều rõ ràng, không thể đoạn diệt. Nói cả 2 đế như thế mà đế nào cũng tương ứng với lí. Tuy nhiên, cũng có khi Như Lai nói trời đất có thể hợp lại, sông chẳng chảy về biển, núi từ 4 phương ập đến, cây Sa la có thể thụ 8 giới...; những lời nói này không tương ứng với lí, vì thế nên gọi là Bất ứng ngữ.6. Thế lưu bố ngữ: Như Lai tùy thuận ngôn ngữ phổ thông ở Thế Gian, như nói nam nữ, xe ngựa, phòng xá, thành ấp...
7. Như ý ngữ: Đối với Chúng Sinh, hễ có điều gì dạy bảo thì Như Lai đều dùng Phương Tiện nói những lời vừa ý mọi người.
1. Nhân ngữ: Đức Phật ngay nơi nhân hiện tại nói về quả vị lai, như nói Chúng Sinh thích giết hại, cho đến ưa làm theo Tà Kiến, đó chính là nhân, người ấy sẽ chịu Quả Báo Địa Ngục.
2. Quả ngữ: Đức Như Lai ở ngay quả hiện tại mà nói về nhân Quá Khứ, như thấy Chúng Sinh nghèo cùng xấu xí thì nói đó đều do người ấy đời trước Phá Giới, ghen ghét, sân hận, không biết hổ thẹn mà ra.
3. Nhân quảngữ: Như Lai nói một việc từ nhân ở Quá Khứ cho đến quả ở vị lai, như nói 6 nhập xúc ở hiện tại của Chúng Sinh là do nghiệp ở Quá Khứ làm nhân, 6 nhập xúc hiện tại khởi tạo hoặc nghiệp sẽ chiêu cảmquảở quả vị lai.
4. Dụ ngữ: Đức Phật vì Chúng Sinh Độn Căn nên khéo dùng ví dụ để dẫn dắt, như ví dụ thân Phật là Sư Tử Vương.
5. Bất ứng ngữ: Như Lai Thuyết Pháp y cứ vào lí Chân Đế và tục đế, Chân Đế là nói tất cả pháp lìa tính lìa tướng, tất cả đều là Trung Đạo; tục đế thì nói các pháp Thế Gian, xuất Thế Gian mỗi pháp đều rõ ràng, không thể đoạn diệt. Nói cả 2 đế như thế mà đế nào cũng tương ứng với lí. Tuy nhiên, cũng có khi Như Lai nói trời đất có thể hợp lại, sông chẳng chảy về biển, núi từ 4 phương ập đến, cây Sa la có thể thụ 8 giới...; những lời nói này không tương ứng với lí, vì thế nên gọi là Bất ứng ngữ.6. Thế lưu bố ngữ: Như Lai tùy thuận ngôn ngữ phổ thông ở Thế Gian, như nói nam nữ, xe ngựa, phòng xá, thành ấp...
7. Như ý ngữ: Đối với Chúng Sinh, hễ có điều gì dạy bảo thì Như Lai đều dùng Phương Tiện nói những lời vừa ý mọi người.