Thập Thánh Tam Hiền

《十聖三賢》 shí shèng sān xián

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: Thập Thánh là những vị Bồ Tát thuộc giai vị từ Sơ Địa (), tức Hoan Hỷ Địa (Sanskrit: pramudhitā-bhūmi, ), đến Thập Địa (), tức Pháp Vân Địa (Sanskrit: dharmameghā-bhūmi, ). Tam Hiền là những Bồ Tát thuộc giai vị của Thập Trụ (), Thập Hạnh ()Thập Hồi Hướng (). Như trong Tổ Đình Sự Uyển (, Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1261) quyển 8 có định nghĩa rằng: “Tam Hiền Thập Thánh, Hoa Nghiêm minh Thập Trú, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng vi hiền; Thập Địa vi thánh, Diệu Giác vi Phật. Thập Thánh giả, tức Thập Địa Thánh Nhân; nhất Hoan Hỷ, nhị Ly Cấu, tam Phát Quang, tứ Diệm Huệ, Ngũ Nan Thắng, lục Hiện Tiền, thất Viễn Hành, bát Bất Động, cửu Thiện Huệ, Thập Pháp Vân. Niết Bàn vân: 'Bồ Tát vị giai Thập Địa, thượng bất năng liễu liễu tri Kiến Phật tánh, hà huống Thanh Văn, Duyên Giác chi nhân năng đắc Tà Kiến; thí như túy nhân dục thiệp viễn lộ, mông lung Kiến Đạo; Thập Địa Bồ Tát ư Như Lai tri kiến thiểu phân, diệc phục Như Thị' (, Ba Hiền Mười Thánh, Kinh Hoa Nghiêm cho biết rõ rằng Mười Trụ, Mười Hạnh và Mười Hồi Hướng là hiền; Mười Địa là thánh, Diệu Giác là Phật. Mười Thánh, tức Thánh Nhân của Mười Địa; một là Hoan Hỷ, hai Ly Cấu, ba Phát Quang, bốn Diệm Huệ, năm Nan Thắng, sáu Hiện Tiền, bảy Viễn Hành, tám Bất Động, chín Thiện Huệ và mười là Pháp Vân. Kinh Niết Bàn dạy rằng: 'Bồ Tát đang ở giai vị Mười Địa còn không thể Liễu Ngộ tri Kiến Phật tánh, huống gì hạng người Thanh Văn, Duyên Giác tất có thể bị Tà Kiến; giống như người say muốn vượt con đường xa, thấy đường quờ quạng, Bồ Tát của Mười Địa ít Phân Biệt được tri kiến của Như Lai, cũng giống như vậy').” Trong Thiền Môn Bảo Tạng Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1276) có câu rằng: “Chúng Sanh nhược nhất niệm bất sanh, tức đồng chư Phật, hựu Sơ Địa tức Phật Địa, Tam Hiền Thập Thánh do Như Không trung Điểu Tích (, nếu Chúng Sanh một niệm không sanh, tức cùng với chư Phật, và Sơ Địa tức là Phật Địa, Ba Hiền Mười Thánh cũng giống như dấu viết chim trong Hư Không).”