Thập Lục Hành Tướng
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm:Wođazàkàrà#. Cũng gọi Thập Lục Hành, Thập Lục Hành Quán, Thập Lục Hành Tướng quán, Thập Lục Đế, Tứ Đế Thập Lục Hành Tướng. Chỉ cho phương pháp quán xét 16 hành tướng của 4 đế để diệt trừ các kiến chấp. Cứ theo luận Câu xá quyển 26 thì 16 hành tướng ấy là:
1. Bốn hành tướng của Khổ Đế: a. Vô thường (Phạm: Anitya): Vì đợi duyên mới có. b. Khổ (Phạm:Du#kha): Vì có tính bức bách. c. Không (Phạm:Zùnya): Vì trái với nghã sở kiến. d. Phi ngã (Phạm: Anàtman): Vì trái với Ngã Kiến.
2. Bốn hành tướng của Tập Đế: a. Nhân (Phạm: Hetu): Lí ấy như hạt giống. b. Tập (Phạm: Samudaya): Giống như lí hiển hiện. c. Sinh (Phạm:Prabhava): Có năng lực làm cho Sinh Khởi liên tục. d. Duyên (Phạm: Pratyaya): Có Công Năng khiến cho Thành Tựu; ví như các duyên (điều kiện): Đất sét, cái bàn quay, dây và nước hòa hợp thành cái bình.
3. Bốn hành tướng của Diệt Đế: a. Diệt (Phạm:Nirodha): Vì các uẩn đều đã hết. b. Tĩnh (Phạm: Zànta): Vì 3 thứ lửa (tham, sân, si) đã tắt. c. Diệu (Phạm:Pranìta): Vì không còn các hoạn nạn. d. Li (Phạm:Ni#saraịa): Vì đã thoát khỏi mọi tai ách.
4. Bốn hành tướng của Đạo Đế. a. Đạo (Phạm:Màrga): Vì có nghĩa là con đường thông suốt. b. Như (Phạm:Nyàya): Vì khế hợp với chính lí. c. Hành (Phạm: Pratipad): Vì hướng tới chân chính. d. Xuất (Phạm:Nairyàịika): Vì có khả năngvượtthoát vĩnh viễn. Mười sáu hành tướng tuy có 16 tên nhưng thực ra chỉ có
7. Nghĩa là khi duyên Khổ Đế thì Danh, Thực đều có 4, nhưng duyên 3 đế còn lại thì Danh có 4, Thực chỉ có
1. Mục đích tu 16 hành tướng là để Đối Trị các kiến chấp, trong đó, vì Đối Trị các kiến chấp: Thường, lạc, Ngã Sở, Ngã Kiến... cho nên tu các hành tướng: Phi thường, khổ, không, phi ngã...; vì Đối Trị các kiến chấp như: Vô nhân, nhất nhân, biến nhân, tri Tiên Nhân... cho nên tu các hành tướng: Nhân, tập, sinh, duyên; vì Đối Trị kiến chấp giải thoát là không, nên tu hành tướng Diệt; để Đối Trị kiến chấp giải thoát là Khổ, nên tu hành tướng Tĩnh; để Đối Trị kiến chấp cho cái vui của Tĩnh lự và Đẳng chí là diệu nên tu hành tướng Diệu; để Đối Trị kiến chấp cho rằng giải thoát luôn luôn lui sụt chứ chẳng phải vĩnh hằng, cho nên tu hành tướng Li; vì Đối Trị các kiến chấp vô đạo, tà đạo, dư đạo, thoái đạo... cho nên tu các hành tướng: Đạo, Như, Hành, Xuất. [X. kinh Tọa Thiền Tam Muội Q.hạ; kinh Chính Pháp Niệm Xứ Q. 34.; luận Đại tì Bà Sa Q. 79.].
1. Bốn hành tướng của Khổ Đế: a. Vô thường (Phạm: Anitya): Vì đợi duyên mới có. b. Khổ (Phạm:Du#kha): Vì có tính bức bách. c. Không (Phạm:Zùnya): Vì trái với nghã sở kiến. d. Phi ngã (Phạm: Anàtman): Vì trái với Ngã Kiến.
2. Bốn hành tướng của Tập Đế: a. Nhân (Phạm: Hetu): Lí ấy như hạt giống. b. Tập (Phạm: Samudaya): Giống như lí hiển hiện. c. Sinh (Phạm:Prabhava): Có năng lực làm cho Sinh Khởi liên tục. d. Duyên (Phạm: Pratyaya): Có Công Năng khiến cho Thành Tựu; ví như các duyên (điều kiện): Đất sét, cái bàn quay, dây và nước hòa hợp thành cái bình.
3. Bốn hành tướng của Diệt Đế: a. Diệt (Phạm:Nirodha): Vì các uẩn đều đã hết. b. Tĩnh (Phạm: Zànta): Vì 3 thứ lửa (tham, sân, si) đã tắt. c. Diệu (Phạm:Pranìta): Vì không còn các hoạn nạn. d. Li (Phạm:Ni#saraịa): Vì đã thoát khỏi mọi tai ách.
4. Bốn hành tướng của Đạo Đế. a. Đạo (Phạm:Màrga): Vì có nghĩa là con đường thông suốt. b. Như (Phạm:Nyàya): Vì khế hợp với chính lí. c. Hành (Phạm: Pratipad): Vì hướng tới chân chính. d. Xuất (Phạm:Nairyàịika): Vì có khả năngvượtthoát vĩnh viễn. Mười sáu hành tướng tuy có 16 tên nhưng thực ra chỉ có
7. Nghĩa là khi duyên Khổ Đế thì Danh, Thực đều có 4, nhưng duyên 3 đế còn lại thì Danh có 4, Thực chỉ có
1. Mục đích tu 16 hành tướng là để Đối Trị các kiến chấp, trong đó, vì Đối Trị các kiến chấp: Thường, lạc, Ngã Sở, Ngã Kiến... cho nên tu các hành tướng: Phi thường, khổ, không, phi ngã...; vì Đối Trị các kiến chấp như: Vô nhân, nhất nhân, biến nhân, tri Tiên Nhân... cho nên tu các hành tướng: Nhân, tập, sinh, duyên; vì Đối Trị kiến chấp giải thoát là không, nên tu hành tướng Diệt; để Đối Trị kiến chấp giải thoát là Khổ, nên tu hành tướng Tĩnh; để Đối Trị kiến chấp cho cái vui của Tĩnh lự và Đẳng chí là diệu nên tu hành tướng Diệu; để Đối Trị kiến chấp cho rằng giải thoát luôn luôn lui sụt chứ chẳng phải vĩnh hằng, cho nên tu hành tướng Li; vì Đối Trị các kiến chấp vô đạo, tà đạo, dư đạo, thoái đạo... cho nên tu các hành tướng: Đạo, Như, Hành, Xuất. [X. kinh Tọa Thiền Tam Muội Q.hạ; kinh Chính Pháp Niệm Xứ Q. 34.; luận Đại tì Bà Sa Q. 79.].