Thập Loại

《十類》 shí lèi

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: 10 loại Cô Hồn. Theo Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi (, Taishō No. 1320), quyển 1, cũng như Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (, Taishō No. 1497) quyển 3, có liệt kê 10 loại như: (1) Nhất Thiết thủ cương hộ giới, trần lực ủy mạng quân trận tương trì, vị quốc vong thân quan viên tướng sĩ binh tốt Cô Hồn chúng (, hết thảy Linh Hồn cô đơn của các quan viên, tướng sĩ, binh tốt đã trấn giữ biên cương, đem sức bỏ mạng trong chiến trận, hay vì nước quên mình). (2) Nhất Thiết phụ tài thất khiếm mạng, tình thức câu hệ sinh sản trí mạng, Oan Gia trái chủ đọa thai Cô Hồn chúng (, hết thảy Linh Hồn cô đơn của những người không có tiền tài mất mạng, tình cảm vương vào sinh sản mà bỏ mạng, các Oan Gia trái chủ sẩy thai). (3) Nhất Thiết khinh bạc Tam Bảo, bất hiếu phụ mẫu, Thập Ác Ngũ Nghịch Tà Kiến Cô Hồn chúng (, hết thảy Linh Hồn cô đơn của những người khinh thường Tam Bảo, không có hiếu thảo với cha mẹ, phạm mười điều ác, năm tội nghịch, Tà Kiến). (4) Nhất Thiết giang hà thủy nịch, đại hải vi thương, phong lãng phiêu trầm thái bảo Cô Hồn chúng (, hết thảy Linh Hồn cô đơn của những người chết đuối vì lặn lội khắp sông nước, biển lớn để bán buôn, sóng gió nỗi trôi trên biển cả để tìm kho báu). (5) Nhất Thiết Biên Địa Tà Kiến trí mạng man di Cô Hồn chúng (, hết thảy Linh Hồn cô đơn của mọi rợ bỏ mạng chốn Biên Địa, không có chánh kiến). (6) Nhất Thiết phao ly hương tinh khách tử tha châu, vô y vô thác du đãng Cô Hồn chúng (, hết thảy Linh Hồn cô đơn của những người du đãng từ bỏ quê hương, bỏ mạng xứ người, không nơi nương tựa, không ai phó thác). (7) Nhất Thiết hà tỉnh đao sách phó hó đầu nhai, tường băng ốc đảo thọ chiết nham tồi, thú giảo trùng thương hoạnh tử Cô Hồn chúng (, hết thảy Linh Hồn cô đơn bị hoạnh tử vì sông giếng, đao chém, xông vào lửa, nhảy xuống vực, tường sụp, nhà đỗ, cây gãy, núi lỡ, thú cắn, trùng làm thương tổn). (8) Nhất Thiết ngục trung trí mạng, bất tuân vương pháp, tặc khấu thiết đạo, bão khuất hàm oan, đại tịch phân thi phạm pháp Cô Hồn chúng (, hết thảy Linh Hồn cô đơn của những người mất mạng trong ngục thất, không tuân phép vua, trộm cướp, ăn cắp, mang nỗi hàm oan, phạm Pháp Bị phân thây). (9) Nhất Thiết nô tỳ cấp sử, Cần Lao trần lực, ủy mạng bần tiện Cô Hồn chúng (使, hết thảy Linh Hồn cô đơn của các nô tỳ phục dịch, lao nhọc tận sức, bỏ mạng, bần tiện). (10) Nhất Thiết manh lung ám á túc bí thủ quyện, tật bệnh triền miên ung thư tàn hại, quan quả cô độc vô kháo Cô Hồn chúng (綿, hết thảy Linh Hồn cô đơn của những người bị đui điếc, ngọng lịu, chân khập khểnh, tay tàn tật, tật bệnh triền miên, ung thư tàn hại, góa vợ cô Độc Không nơi nương tựa). Tuy nhiên, trong bản Hiện Hành Chánh Khắc Trung Khoa Du Già Tập Yếu ()—khoa nghi cúng Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn do chư tăng thường dùng—được khắc dưới thời nhà Nguyễn vào năm Mậu Tý (1888) đời vua Đồng Khánh và tàng bản tại Chùa Báo Quốc, Thành Phố Huế, lại liệt kê đến 13 loại Cô Hồn như: (1) vua chúa cai trị đất nước; (2) anh hùng tướng lãnh triều đình; (3) văn thần tể tướng, quan lại; (4) văn nhân tài tử; (5) tu sĩ Xuất Gia Phật giáo; (6) Huyền Môn đạo sĩ của Khổng Giáo; (7) kẻ lang thang không nơi nương tựa nơi đất khách; (8) binh sĩ chết ngoài chiến trận; (9) những phụ nữ chết vì sinh con; (10) những người phỉ báng Tam Bảo và bất hiếu với cha mẹ; (11) cung phi mỹ nữ trong cung nội; (12) những vong hồn chết oan uổng; và (13) Pháp Giới sáu đường, hết thảy Linh Hồn trong đại địa, v.v. Như vậy, con số 10 hay 13, v.v., chỉ là con số tượng trưng để liệt kê những loại Cô Hồn chính mà thôi. Thật ra trên Thế Gian có bao nhiêu hạng người thì có bấy nhiêu loại Cô Hồn. Cho nên, Thập Loại ở đây không phải dừng lại ở ý nghĩa 10 loại, mà còn có nghĩa vô số loại khác nhau. Trong Chúng Sanh Thập Loại Tế Văn (, Văn Tế Mười Loại Chúng Sanh) của thi hào Nguyễn Du (, 1765-1820) có câu: “Trong trường dạ tối tăm trời đất, có khôn thiêng phảng phất u minh, thương thay Thập Loại Chúng Sinh, hồn đơn phách chiếc linh đinh quê người…” Hay như trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh () có bài tán công hạnh của Ngài rằng: “Địa Tạng Bồ Tát diệu nan luân, hóa hiện Kim Dung xứ xứ phân, Tam Đồ Lục Đạo văn Diệu Pháp, Tứ Sanh Thập Loại mông từ ân, Minh Châu chiếu triệt Thiên Đường lộ, kim tích chấn khai Địa Ngục môn, lụy kiếp thân nhân mông Tiếp Dẫn, Cửu Liên Đài bạn lễ Từ Tôn (, Địa Tạng Bồ Tát mầu khó lường, hóa hiện dung vàng chốn chốn nương, Ba Đường Sáu Nẻo nghe Diệu Pháp, bốn loài mười loại đội ơn thương, châu sáng chiếu tận Thiên Đường cõi, kim tích chấn mở Địa Ngục toang, nhiều kiếp thân bằng được Tiếp Dẫn, sen đài Chín Phẩm lễ Từ Tôn).”