Thần Thông

《神通》 shén tōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: abhijñā, Pāli: abhiññā: âm dịch là Tác Tuần () ý dịch là Thần Thông lực (), Thần Lực (), Thông Lực (), thông (), v.v.; nghĩa là nương vào việc tu tập Thiền định mà đạt được Tác Dụng Tự Tại vô ngại, Siêu Việt con người, không thể nghỉ bàn. Có 5 loại Thần Thông (Ngũ Thần Thông [], Ngũ Thông [])Thần Túc Thông (), Thiên Nhãn Thông (), Thiên Nhĩ Thông (), Tha Tâm Thông (), Túc Mạng Thông (宿). Nếu cọng thêm Lậu Tận Thông () thì trở thành Lục Thần Thông (Sanskrit: ṣaḍ-abhijñāḥ, , hay Lục Thông []). Ngoài ra, cũng có khi chỉ riêng Thần Túc ThôngThần Thông. Theo A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 27, Lục Thông thì lấy tuệ () làm Bản Chất (tự tánh); trong đó Ngũ Thần Thông nhờ tu Tứ Thiền (Sanskrit: catvāri dhyānāni, Pāli: cattāri jhānāni ) mà chứng được; không phải chỉ có bậc Thánh mới Chứng Đắc, mà ngay cả Phàm Phu cũng có thể chứng được. Tuy nhiên, đối với trường hợp Lậu Tận Thông thì chỉ có bậc Thánh mới có được. Theo Đại Trí Độ Luận (, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 28, Bồ Tát có Ngũ Thông, Phật thì có Lục Thông. Thành Thật Luận (, Taishō Vol. 32, No. 1646) quyển 16 còn cho biết rằng ngoài Phật Giáo ra, Ngoại Đạo cũng có Thể Đạt được Ngũ Thông. Vị tiên Chứng Đắc được Ngũ Thông được gọi là Ngũ Thông Tiên Nhân (). Đại Thừa Nghĩ Chương (, Taishō Vol. 44, No. 1851) quyển 20 có nêu lên 4 phương pháp đạt được Thần Thông. (1) Nhờ Quả Báo sanh lên cõi Thiền thứ tư mà đạt được Báo Thông (, Thần Thông có được nhờ Quả Báo); (2) Tiên Nhân nhờ năng lực của thuốc, có được Nghiệp Thông (, do nghiệp mà đạt được năng lực Thần Thông) tự do bay trên không. (3) Bà La Môn nhờ trì chú mà đạt được Chú Thông (); (4) Nhờ tu Thiền định mà chứng được Thần Thông gọi là Tu Thông (). Trong đó, Nghiệp Thông và Chú Thông thuộc về Thần Thông của Ngoại Đạo. Tông Kính Lục (, Taishō Vol. 48) quyển 15 lại chia Thần Thông làm 5 loại khác: (1) Đạo Thông (), là Thần Thông đạt được sau khi ngộ lý Trung Đạo (Sanskrit: madhyamā-pratipad, Pāli: majjhima-paṭipadā ), lấy vô tâm để ứng với muôn vật mà biến hiện vạn hữu. (2) Thần Thông (), là năng lực Thần Thông nương vào sự tĩnh tâm của Thiền định, quán sát tư duy mà biết được mạng sống đời trước, v.v. (3) Y Thông (), là năng lực Thần Thông nương vào dược liệu, hộ phù hay chú, v.v., mà có được. (4) Báo Thông (), là năng lực Thần Thông nương vào Quả Báo mà có được. (5) Yêu Thông (), là năng lực Thần Thông của hàng yêu quái. Trong Đại Đường Tây Vức Ký (西, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 12, chương Khiết Bàn Đà Quốc (), của Huyền Trang (, 602-664) nhà Đường, có đoạn: “Thời Khiết Bàn Đà quốc, hữu đại La Hán, diêu quán kiến chi, mẫn kỳ nguy ách, dục vận Thần Thông, chửng tư luân nịch (, lúc bấy giờ ở nước Khiết Bàn Đà, có một vị đại La Hán, xa quán thấy như vậy, thương xót tai ách của họ, muốn vận Thần Thông, cứu vớt sự chìm đắm ấy).” Vua Lý Nhân Tông (, tại vị 1072-1127) có bài thơ rằng: “Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền Đạo hựu huyền, Thần Thông kiêm biến hóa, nhất Phật nhất thần tiên (, Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền Đạo lại huyền, Thần Thông và biến hóa, bên Phật bên thần tiên).” Hay trong bài Lục Quán Đường Tán () của Tô Thức (, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Ngã quán Chúng Sanh, Thần Thông Tự tại (, ta quán Chúng Sanh, Thần Thông Tự tại).”