Tăng Hạ

《增賀》 zēng hè

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Zōga, 917-1003: vị Tăng của Thiên Thai Tông, sống vào khoảng giữa thời Bình An, húy là Tăng Hạ (), thường được gọi là Đa Võ Phong Tiên Đức (), xuất thân vùng Kyoto; con của Tham Nghị Quất Hằng Bình (). Năm 10 tuổi, ông lên Tỷ Duệ Sơn (, Hieizan), theo hầu Lương Nguyên (). Năm 963, theo lời khuyên của Như Giác (), ông đến sống trong núi Đa Võ Phong () thuộc vùng Đại Hòa (, Yamato). Mỗi năm bốn mùa ông đều Chuyên Tu Pháp Hoa Tam Muội (), đến năm 964 thì giảng Ma Ha Chỉ Quán (), rồi năm sau thì giảng Pháp Hoa Văn Cú (). Vào năm 996, nhân mùa kiết hạ An Cư, ông đọc tụng Pháp Hoa Kinh và Cảm Ứng được Quan Âm cũng như Văn Thù Bồ Tát, rồi sống mãi trong núi ấy suốt 41 năm trường. Tác phẩm của ông để lại có Du Già Sư Địa Luận Vấn Đáp () 7 quyển, Vô Ngôn Niệm Phật Quán () 1 quyển, Pháp Hoa Huyền Nghĩa Sao (). Hơn nữa, theo như trong Bản Triều Pháp Hoa Nghiệm Ký () có ghi về việc ông đã tu trì Pháp Hoa Kinh và khi Lâm Chung thì thể hiện dưới hình thức như sau: “Tụng Pháp Hoa Kinh Thủ Kết Kim Cang Ấn tọa Thiền cư Nhập Diệt (, ông vừa tụng Kinh Pháp Hoa, tay bắt Ấn Kim Cang, ở thế tọa Thiền mà Nhập Diệt).” Như vậy theo nhận xét trên của Tác Giả Ngu Quản Sao (, Gukanshō), ta có thể suy đoán được rằng hình thái khi Lâm Chung của Pháp Nhiên () không giống với Tăng Hạ Thượng Nhân. Có nghĩa rằng khi Pháp Nhiên Thị Tịch, có lẽ ông đã bắt Ấn Kim Cang và tọa Thiền. Và hình thức khi Pháp Nhiên Thị Tịch như thế nào thì Tác Giả cũng không ghi rõ chi tiết.