Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông

《新義眞言宗》 xīn yì zhēn yán zōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Shingishingonshū: tên gọi một phái của Chơn Ngôn Tông, còn gọi là Chơn Ngôn Tông Tân Nghĩa Phái (), đối với Cổ Nghĩa Chơn Ngôn Tông (). Sự việc phát xuất từ chuyện Giác Noan (, Kakuban), người sáng lập Đại Truyền Pháp Viện () trên Cao Dã Sơn (, Kōyasan), kháng tranh với Kim Cang Phong Tự (, Kongōbō-ji), nên mới dời về Căn Lai Tự (, Negoro-ji) vào cuối thời Bình An. Chơn Ngôn Tông thời Trung Đại thì bị chia thành ba cực lớn là các ngôi chùa ơ kinh đô Kyoto như Đông Tự (, Tō-ji), Nhân Hòa Tự (, Ninna-ji), Đề Hồ Tự (, Daigo-ji), với Cao Dã Sơn và Căn Lai Tự. Trường hợp Cao Dã Sơn và Căn Lai Tự thì rất hưng thạnh nhờ sự hưng khởi giáo học độc đáo của họ. Phái Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông lấy Căn Lai Tự làm trung tâm để tạo thành giáo đoàn có thế lực rất lớn. Sự khác nhau giữa Tân Nghĩa với Cổ Nghĩa ở chỗ xoay quanh sự Thuyết Pháp của vị giáo chủ Tông PháiĐại Nhật Như Lai (Sanskrit: Vairocana, ); phái Tân Nghĩa thì chủ trương đó là Gia Trì Thân Thuyết Pháp, còn phái Cổ Nghĩa thì cho là Bản Địa Thân Thuyết Pháp; tuy nhiên về mặt pháp hệ tương thừa thì không có gì khác biệt cả. Việc Quyết Định tên gọi Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông vốn phát xuất từ thời Cận Đại, với mục đích nhằm Phân Biệt với phái Cổ Nghĩa Chơn Ngôn Tông ngày xưa mà thôi. Giác Noan thì được xem như là vị Tổ khai sáng phái Tân Nghĩa này; bên cạnh đó, ông còn là Tổ Khai Sơn của Đại Truyền Pháp Viện cũng như Căn Lai Tự; cho nên nếu đứng về mặt giáo học mà xét thì phái này được chuyển từ Đại Truyền Pháp Viện về Căn Lai Tự. Về sau giáo học của phái này được Thánh Hiến (, Shōken) hoàn chỉnh thành hệ thống rõ ràng. Dưới thời đại Chiến Quốc, Căn Lai Tự rất nổi tiếng với tập đoàn Tăng Binh có đội quân thiết pháo, và có tính cách như là lãnh chúa phong kiến, giống như trường hợp của Cao Dã Sơn với Tỷ Duệ Sơn. Tuy nhiên, do vì Căn Lai Tự đối kháng với Tướng Quân Vũ Sài Tú Cát (, Hashiba Hideyoshi, tức Phong Thần Tú Cát [, Toyotomi Hideyoshi]); nên vào năm 1585, chùa bị đốt cháy tan tành. Về sau, hai học giả Chuyên Dự (, Senyō) thì dựng Pháp TràngTrường Cốc Tự (, Hase-dera) vùng Đại Hòa (, Yamato); còn Huyền Hựu (, Genyū) thì ở Trí Tích Viện () thuộc kinh đô Kyoto, và đến thời kỳ giang hộ thì hai nơi này trở thành chùa trung tâm của phái Tân Nghĩa. Từ cuối thời Minh Trị trở đi, có xuất hiện những tên gọi khác nhau Chơn Ngôn Tông Tân Nghĩa Phái (), Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông Phong Sơn Phái ()Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông Trí Sơn Phái (); nhưng hiện tại chỉ còn lại danh xưng Chơn Ngôn Tông Phong Sơn Phái (), Chơn Ngôn Tông Trí Sơn Phái (), và chữ Tân Nghĩa Không còn nữa.

Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông. Từ Điển Phật Học Vibudra. https://www.vibudra.org/glossary/thuatngu/tan-nghia-chon-ngon-tong. Truy cập 06/04/2026.