Tam Tế

《三際》 sān jì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tức Tam Thế (), ba đời; gồm (1) Tiền Tế (Sanskrit: pūrvānta, ), chỉ cho Quá Khứ; (2) Hậu Tế (Sanskrit: aparānta, ), chỉ tương lai; (3) Trung Tế (Sanskrit: madhyānta, ), chỉ hiện tại. Như trong Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (, Taishō Vol. 8, No. 246) quyển Thượng, Phẩm Quán Như Lai () thứ 2 có đoạn: “Quán thân Thật Tướng, quán Phật diệc nhiên, vô tiền tế, vô hậu tế, vô trung tế, bất trú Tam Tế, bất ly Tam Tế (, quán Thật Tướng của thân, quán Phật cũng như vậy, không Quá Khứ, không tương lai, không hiện tại, chẳng trú ba đời, chẳng lìa ba đời).” Hay trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 5 lại có đoạn: “Tam Tế cầu tâm tâm bất kiến, lưỡng nhãn y nhiên đối lưỡng nhãn, bất tu di kiếm khắc chu tầm, tuyết nguyệt phong hoa thường kiến diện (, ba đời tìm tâm tâm chẳng thấy, hai mắt như xưa đối hai mắt, chẳng nên mất kiếm khắc thuyền tìm, trăng tuyết gió hoa thường thấy mặt).” Ngoài ra, tại Ấn Độ một năm chia ra ba kỳ, lấy Tam Tế phối với nhật nguyệt thì có các thuyết khác nhau, Như Thuyết của Thần Thái (), Chơn Đế (), Phổ Quang (), Huyền Trang (), v.v.; trong đó, thuyết của Chơn ĐếHuyền Trang thì tương đồng. Tam Tế ở đây là (1) Nhiệt Tế (Sanskrit: grīṣma-ṛtu, ), từ ngày 16 tháng Giêng đến 15 tháng 5; (2) Vũ Tế (Sanskrit: varṣa-ṛtu, ), từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 9; (3) Hàn Tế (Sanskrit: hemanta-ṛtu, ), từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng Giêng. Đại Đường Tây Vức Ký (西, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 2 lại lấy Tam Tế chia thành 6 thời, gồm: (1) Từ ngày 16 tháng Giêng đến 15 tháng 3, gọi là tạm nhiệt (, tạm nóng, nóng sơ); (2) Từ ngày 16 tháng 3 đến 15 tháng 5, gọi là thạnh nhiệt (, nóng gắt); (3) Từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 7, gọi là vũ thời (, mùa mưa); (4) Từ ngày 16 tháng 7 đến 15 tháng 9, gọi là mậu thời (, mùa tươi tốt); (5) Từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng 11, gọi là tạm hàn (, hơi lạnh); (6) Từ ngày 16 tháng 11 đến 15 tháng Giêng, gọi là thạnh hàn (, lạnh gắt).