Tam Luận Tông
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
Sanron-shū: tên gọi một trong 13 Tông Phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, học phái nghiên cứu dựa trên 3 bộ luận chính là Trung Luận (Sanskrit: Mādhyamakakārikā, 中論) 4 quyển, Thập Nhị Môn Luận (Sanskrit: Dvādaśa-dvāra-śāstra, 十二門論) 1 quyển của Long Thọ (Sanskrit: Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250), vị khaitổ của Phật Giáo Trung Quán, và Bách Luận (百論) củaThánh Đề Bàhay Thánh Thiên (Sanskrit: Āryadeva, 聖提婆 hay 聖天, khoảng 170-270), Đệ Tử của Long Thọ. Cả 3 bộ luận này đều do Cưu Ma La Thập (Sanskrit: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch. Đây là học phái không những dựa trên Kinh Điển mà còn y cứ vào các luận thư, trong đó lấy cả Bát Nhã Kinh (般若經) làm gốc căn bản cho tư tưởng Không, vì thế nó còn được gọi là Trung Quán Tông (中觀宗), Không Tông (空宗), Vô Tướng Tông (無相宗), Vô Tướng Đại Thừa Tông (無相大乘宗), Vô Đắc Chánh Quán Tông (無得正觀宗). Ở Nhật Bản, tông này được Huệ Quán (慧觀) của vương triều Cao Lệ (高麗) Triều Tiên, Đệ Tử của Cát Tạng (吉藏), truyền vào năm 625, và được xem như là đệ nhất truyền của dòng Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji). Ngoài ra, sau này Trí Tạng (智藏) thuộc pháp hệ này có sang nhà Đường cầu pháp, sau khi trở về nước ông đã Nỗ Lực hoằng dương Tông Phong ở Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), và vị này được xem như là đệ nhị truyền. Về sau, Đệ Tử của Trí Tạng là Đạo Từ (道慈) cũng sang nhà Đường cầu pháp trong vòng 18 năm, và truyền thừa nên dòng Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Cứ như vậy tông này đã nghiễm nhiên trở thành 1 trong 6 tông lớn vùng Nam Đô và tiến hành giảng dạy nghiên cứu rất thịnh hành, nhưng sau đó thì lại suy vong.