Tam Chủng Trang Nghiêm
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
I. Tam Chủng Trang Nghiêm. Cũng gọi Tam Chủng Thành Tựu tâm Trang Nghiêm, Tam chủng nguyện nghiêm, Tam nghiêm. Ba loại Công Đức Trang Nghiêm cõi Tịnh Độ Cực Lạc.
1. Quốc Độ Trang Nghiêm: Công Đức Trang Nghiêm cõi nước của Phật, gồm có 17 thứ như Trang Nghiêm Thanh Tịnh Công Đức Thành Tựu, Trang Nghiêm lượng Công Đức Thành Tựu...
2. Phật Trang Nghiêm: Gồm có 8 thứ như Trang Nghiêm tòa Công Đức Thành Tựu...
3. Bồ Tát Trang Nghiêm: Gồm có 3 thứ Công Đức Trang Nghiêm chia làm 29 câu, cho nên cũng gọi là Tam chủng nhị thập cửu cú Trang Nghiêm. [X. luận Vãng sinh; Vãng Sinh Luận chú Q.hạ].
II. Tam Chủng Trang Nghiêm. Chỉ cho 3 loại Y báo Trang Nghiêm do tông Tịnh Độ lập ra, đó là:
1. Địa hạ Trang Nghiêm: Như ánh sáng của tất cả bảo chàng phản chiếu lẫn nhau.
2. Địa Thượng Trang Nghiêm: Như tất cả đất báu, ao rừng, lầu báu, cung điện...
3. Hư Không Trang Nghiêm: Tất cả cảnh biến hóa như cung báu, mạng lưới hoa, mây báu, chim hóa, phong quang, động phát, tiếng nhạc... Ba loại Trang Nghiêm này đều là tướng Thù Thắng, vô lậu chân thực ở cõi nước Cực Lạc của đức Phật A di đà. [X. phần Huyền Nghĩa trong kinh Quán Vô lượng thọ].
1. Quốc Độ Trang Nghiêm: Công Đức Trang Nghiêm cõi nước của Phật, gồm có 17 thứ như Trang Nghiêm Thanh Tịnh Công Đức Thành Tựu, Trang Nghiêm lượng Công Đức Thành Tựu...
2. Phật Trang Nghiêm: Gồm có 8 thứ như Trang Nghiêm tòa Công Đức Thành Tựu...
3. Bồ Tát Trang Nghiêm: Gồm có 3 thứ Công Đức Trang Nghiêm chia làm 29 câu, cho nên cũng gọi là Tam chủng nhị thập cửu cú Trang Nghiêm. [X. luận Vãng sinh; Vãng Sinh Luận chú Q.hạ].
II. Tam Chủng Trang Nghiêm. Chỉ cho 3 loại Y báo Trang Nghiêm do tông Tịnh Độ lập ra, đó là:
1. Địa hạ Trang Nghiêm: Như ánh sáng của tất cả bảo chàng phản chiếu lẫn nhau.
2. Địa Thượng Trang Nghiêm: Như tất cả đất báu, ao rừng, lầu báu, cung điện...
3. Hư Không Trang Nghiêm: Tất cả cảnh biến hóa như cung báu, mạng lưới hoa, mây báu, chim hóa, phong quang, động phát, tiếng nhạc... Ba loại Trang Nghiêm này đều là tướng Thù Thắng, vô lậu chân thực ở cõi nước Cực Lạc của đức Phật A di đà. [X. phần Huyền Nghĩa trong kinh Quán Vô lượng thọ].