Sanh Tử

《生死》 shēng sǐ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: vấn đề Sanh Tử (sống chết) được xem như vô cùng trọng đại đối với con người. Phật Giáo chia Sanh Tử của Chúng Sanh làm 2 loại: Phần Đoạn Sanh Tử và Biến Dị Sanh Tử (). Phần Đoạn Sanh Tử, còn gọi là Phần Đoạn Tử (), Hữu Vi Sanh Tử (), đối xưng với Biến Dị Sanh Tử, tức chỉ Chúng Sanh mỗi đời Quả Báo chiêu cảm không giống nhau, cho nên hình tướng, thọ mạng cũng khác nhau; đó được gọi là Phần Đoạn Thân (). Sau khi thọ thân này, tất phải có một lần kết thúc sinh mạng, vì vậy có tên là Phần Đoạn Sanh Tử. Biến Dị Sanh Tử, hay Vô Vi Sanh Tử (), Bất Tư Nghì Biến Dị Tử (), Biến Dị Tử (), tức chỉ sự Sanh Tử của các bậc thánh trong Ba Thừa như A La Hán (), Bích Chi Phật (), Bồ Tát (), v.v., do vì Bi Nguyện cứu độ Chúng Sanh mà trở lại cõi đời này. Trong Kinh Điển Phật Giáo có rất nhiều ví dụ về Sanh Tử. Như Câu Xá Luận ()Sanh Tử như bùn: “Sanh Tử nê giả, do bỉ Sanh Tử, thị chư Chúng Sanh trầm nịch xứ cố, nan khả xuất cố, sở dĩ thí nê (, bùn Sanh Tử là do Sanh Tử ấy, là nơi Chúng Sanh bị chìm đắm, khó có thể ra được, vì vậy mới ví như bùn).” Thành Duy Thức Luận () thì ví như đêm dài: “Vị đắc chơn giác, hằng xử mộng trung, cố Phật Thuyết vi Sanh Tử trường dạ (, chưa được chánh giác, thường ở trong mộng, cho nên Phật dạy Sanh Tử là đêm dài).” Trong Phật Sở Hành Tán () lại cho Sanh Tử là biển cả: “Đương thừa trí tuệ chu, Siêu Độ Sanh Tử hải (, phải lên thuyền trí tuệ, vượt qua biển Sanh Tử).” Hay Vô Lượng Thọ Kinh () thì xem Sanh Tử như là đám mây mù: “Huệ Nhật chiếu Thế Gian, tiêu trừ Sanh Tử vân (, trời tuệ chiếu Thế Gian, tiêu trừ mây Sanh Tử).” Trong khi đó, Đại Trí Độ Luận ()Sanh Tử là bánh xe: “Sanh Tử luân tải nhân, chư Phiền Não kiết sử, Đại Lực Tự Tại chuyển, vô nhân năng cấm chỉ (使, xe Sanh Tử chở người, các Phiền Não kiết sử, lực lớn tùy ý chuyển, chẳng ai ngăn cấm được).” Hoặc Vãng Sanh Luận Chú () lại ví dụ Sanh Tử là khu vườn: “Thị ứng Hóa Thân, hồi nhập Sanh Tử viên, Phiền Não lâm trung Du Hí Thần Thông (, Hiện Thân ứng hóa, trở lại vào vườn Sanh Tử, Thần Thông rong chơi trong rừng Phiền Não).” Tại Bảo Tháp của Tổ Giác Tiên (, 1880-1936), người Khai Sơn Chùa Trúc Lâm tại Huế và cũng là vị sáng lập Hội An Nam Phật Học Trung Việt, có câu đối: “Tàng bách niên Sanh Tử, quy Nhất Lộ Niết Bàn (, ẩn trăm năm sống chết, về một đường Niết Bàn).” Tại Lâm Dương Tự () thuộc Phúc Châu () có câu đối rằng: “Chúc khứ phạn lai mạc bả quang âm già diện mục, chung minh bảng hưởng thường tương Sanh Tử quải tâm đầu (, cháo đi cơm đến chớ để tháng ngày chơ mặt mũi, chuông ngân bảng vọng thường đem Sanh Tử mang trong tâm).” Thiền Sư Giới Không (, ?-?) của Việt Nam có một bài thơ về Sanh Tử rằng: “Ngã hữu nhất sự kỳ đặc, phi thanh huỳnh xích bạch hắc, thiên hạ Tại Gia Xuất Gia, thân sanh ố Tử Vi tặc, bất tri Sanh Tử dị lộ, Sanh Tử chỉ thị thất đắc, nhược ngôn Sanh Tử dị đồ, trám Khước Thích Ca Di Lặc, nhược tri Sanh Tử Sanh Tử, phương hội lão tăng xứ nặc, nhữ đẳng hậu học môn nhân, mạc nhận bàn tinh quỹ tắc (, ta có một việc kỳ đặc, chẳng xanh vàng đỏ trắng hắc, trên đời Tại Gia Xuất Gia, thích sống ghét chết là giặc, chẳng biết sống chết hai nẻo, sống chết chỉ là được mất, nếu bảo sống chết khác đường, lừa cả Thích Ca Di Lặc, nếu biết sống chết sống chết, mới biết lão tăng chốn nào, các người môn nhân hậu học, chớ lầm khuôn mẫu phép tắc).” Hay Tuệ Trung Thượng Sĩ (, 1230-1291) cũng có nhận định về Sanh Tử như sau: “Tâm chi sanh hề Sanh Tử sanh, tâm chi diệt hề Sanh Tử diệt, Sanh Tử Nguyên Lai tự Tánh Không, thử huyễn Hóa Thân diệc đương diệt (, tâm mà sanh chừ sống chết sanh, tâm mà diệt chừ sống chết diệt, sống chết Nguyên Lai tự Tánh Không, thân huyễn hóa này cũng phải diệt).” Câu “Phần Đoạn Sanh Tử quả nhân ()” có nghĩa là đoạn trừ từng phần nhân và quả của Sanh Tử, nhờ vậy mới có Thể Diệt tận mọi oán ân, Phiền Não.

Sanh Tử. Từ Điển Phật Học Vibudra. https://www.vibudra.org/glossary/thuatngu/sanh-tu. Truy cập 07/04/2026.