Sám Hối

《懺悔》 chàn huǐ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: deśanā, kṣama, paṭi karoti, āpatti-pratideśanā: còn gọi là Hối Quá (, ăn năn những điều sai lầm), là Hành Vi bộc bạch trước chư Phật và các vị Tỳ Kheo về những tội lỗi, sai lầm tự mình phạm phải và cầu xin được công nhận. Nguyên ngữ tiếng Sanskrit của từ này có mấy loại khác nhau. Kṣama (, hối ma) nghĩa là cầu xin tha tội và ăn năn, hối lỗi với những tội lỗi của Quá Khứ. Trong Luật, khi thuyết giới vào mỗi nữa tháng hay vào ngày chấm dứt kỳ An Cư (), có nghi thức tụng giới bổn và Phát Lộ những tội lỗi đã vi phạm trước Đại Tăng từ 1 người (Đối Thủ Sám []) cho đến 4 người (Chúng Pháp Sám []); hình thức này được gọi là āpatti-pratideśanā (đối trước người khác bộc bạch). Trong A Hàm Kinh (), có nhiều trường hợp bộc bạch tội lỗi lên đức Thế Tôn và cầu xin tha tội. Trong Phật Giáo Đại Thừa, có nghi thức Lễ Bái mười phương chư Phật, Phát Lộ những tội lỗi của Ba Nghiệp thân, miệng, ý cũng như các tội lỗi khác và cầu xin Sám Hối. Tại Trung Quốc, Sám Hối đã trở thành một nghi lễ đặc biệt, cho nên nghi thức Sám Pháp () được hình thành và rất phổ cập, tỷ dụ như Lương Hoàng Sám (), Thủy Sám (), Đại Bi Sám (), Dược Sư Sám (), Tịnh Độ Sám (), Địa Tạng Sám (), v.v. Thiên Thai Trí Khải Đại Sư () chia Sám Hối thành Sự Sám (, thể hiện Sám Hối bằng hành động), Lý Sám (, nhờ Quán Pháp về lý của Thật Tướng mà diệt được tội lỗi) và phân ra 3 loại: Tác Pháp (, Sám Hối theo Luật), Thủ Tướng (, Quán Pháp), Vô Sanh (, lý Sám Hối). Đạo Tuyên () của Nam Sơn Luật Tông () cho rằng Chế Giáo Sám () của giới luật là thuộc về Tiểu Thừa, còn Hóa Giáo Sám () với hình thức Sám Hối các tội của Nghiệp Đạo là cọng thông tất cả Phật Giáo, không giới hạn ở thừa nào cả. Y cứ vào Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (), trong giáo học của Thiên Thai Tông có nội dung của Sám Hối với 5 giai đoạn là Sám Hối (), Khuyến Thỉnh (), Tùy Hỷ (), Hồi Hướng (), Phát Nguyện (). Bài kệ văn Sám Hối rất phổ biến được lấy từ quyển 4, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện () của Hoa Nghiêm Kinh (Sanskrit: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, , Taishō 10, 847) là: “Ngã Tích Sở Tạo Chư Ác Nghiệp, giai do vô thỉ Tham Sân Si, tùng thân ngữ ý chi sở sanh, Nhất Thiết ngã kim giai Sám Hối (, con xưa vốn tạo các nghiệp ác, đều do từ trước Tham Sân Si, do thân miệng ý mà sanh ra, hết thảy con nay xin Sám Hối).”