Quy Kính Tự
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Qui kính văn, Qui kính kệ. Chỉ cho phần văn từ bày tỏ lòng qui y Kính Lễ Tam Bảo thường đặt ở đầu Kinh, Luật, Luận trong 3 tạng. Văn qui kính thường là những câu ngắn như: - Qui mệnh Đại Trí Hải Tì Lô Giá Na Phật. - Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. - Nam Mô A Di Đà Phật... Cũng có trường hợp văn qui kính được cấu thành bằng những câu kệ, như luận Thuận chính lí (Đại 29, 329 thượng) ghi: Nếu muốn tạo luận Phải có Tông Thừa Đối với Bản Tôn Trước phải qui kính. Trong các Kinh, Luật, Luận bằng tiếng Phạm, Pàli, Tây tạng thì quá phân nửa đều có phụ thêm văn qui kính, như ở đầu kinhVô lượng thọ bản tiếng Phạm có văn quikính như sau: O namo ratnatrayàya, o nama # zrìsarvabuddhabodhisattvebhya #, namo dazadiganaôtàparyaôtaloka = dhàtupratiwỉhitebhya # sarvabuddha = bodhisattvàya zràvakapratyeka = buddhebhyo ’tìtànàgatapratyut = pannebhya #, namo ’mitàbhàya, namo ’cìôtyaguịaôtaràtmane (Án qui mệnh Tam Bảo. Án qui mệnh Cát Tường Nhất Thiết Phật Bồ Tát. Qui mệnh an trụ Thập Phương vô biên vô lượng Thế Giới chi qúa khứ vị lai hiện tại Nhất Thiết Phật Bồ Tát, Thánh giả Thanh Văn Độc giác. Qui mệnh A di đà bà. Qui mệnh Bất Khả Tư Nghị Công Đức Chi Cụ túc giả). Còn ở đầu các kinh tiếng Pàli thì phần nhiều có văn qui kinh như sau: Namo tassa bhagevato arahato sammàsam = buddhassa (Nam Mô Bà Già Bà a ra ha Tam Miệu Tam Phật Đà). Nhưng trong các Kinh Điển Hán dịch, trừ những kinh quĩ Mật giáo được dịch từ đời Tống về sau, còn ngoài ra rất ít thấy văn qui kính. Đây là do dịch giả bỏ bớt đi, hay là trong nguyên Bản Không có? Vấn đề này không khảo chứng được. Về dụng ý của Tác Giả viết văn qui kính ở đầu các bộ luận thì Câu xá luận quang kí quyển 1 nêu ra 3 lí do như sau:
1. Vì sợ có ma sự gây trở ngại nên lễ thỉnh Phật, Bồ Tát gia bị.
2. Biết rõ đức Thế Tôn có đầy đủ Công Đức Thù Thắng nên đối với Chính Pháp của Ngài nói ra sinh lòng kính tin tôn trọng.
3. Giống như người con có hiếu, bất cứ làm việc gì cũng đều thưa trước với cha mẹ. Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Kí quyển thượng cũng nêu 6 Nguyên Nhân sau đây:
1. Vì mang ơn nên bày tỏ lòng tôn kính đối với ơn Tam Bảo: Phật Pháp tăng.
2. Vì xin gia hộ nên khẩn cầu uy lực Tam Bảo giúp ích cho việc hoằng truyền đại pháp.
3. Vì phát sinh lòng tin, bởi người tạo luận tự thẹn mình thiếu khả năng nên qui kính Tam Bảo để cầu sự giúp sức cho người khác tin nhận.
4. Vì lễ phép Cung Kính, như bầy tôi trung, người con hiếu ở Thế Gian, hễ làm việc gì đều tâu vua và trình cha trước.
5. Biểu thị sự Thù Thắng, bởi vì Tam Bảo là tốt lành, hơn hẳn Thế Gian, cho nên ở đầu để nói tính vượt trội hơn hết.
6. Vì lợí ich Chúng Sinh, khiến Chúng Sinh đối với Tam Bảo phát tâm tin hiểu quán xét, cúng dường qui y, cho nên dùng văn qui kính biểu thị đính lễ. [X.luật Tứ phần Q. 1.; Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Q. 4.; Pháp Uyển Châu Lâm Q. 13.-20].
1. Vì sợ có ma sự gây trở ngại nên lễ thỉnh Phật, Bồ Tát gia bị.
2. Biết rõ đức Thế Tôn có đầy đủ Công Đức Thù Thắng nên đối với Chính Pháp của Ngài nói ra sinh lòng kính tin tôn trọng.
3. Giống như người con có hiếu, bất cứ làm việc gì cũng đều thưa trước với cha mẹ. Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Kí quyển thượng cũng nêu 6 Nguyên Nhân sau đây:
1. Vì mang ơn nên bày tỏ lòng tôn kính đối với ơn Tam Bảo: Phật Pháp tăng.
2. Vì xin gia hộ nên khẩn cầu uy lực Tam Bảo giúp ích cho việc hoằng truyền đại pháp.
3. Vì phát sinh lòng tin, bởi người tạo luận tự thẹn mình thiếu khả năng nên qui kính Tam Bảo để cầu sự giúp sức cho người khác tin nhận.
4. Vì lễ phép Cung Kính, như bầy tôi trung, người con hiếu ở Thế Gian, hễ làm việc gì đều tâu vua và trình cha trước.
5. Biểu thị sự Thù Thắng, bởi vì Tam Bảo là tốt lành, hơn hẳn Thế Gian, cho nên ở đầu để nói tính vượt trội hơn hết.
6. Vì lợí ich Chúng Sinh, khiến Chúng Sinh đối với Tam Bảo phát tâm tin hiểu quán xét, cúng dường qui y, cho nên dùng văn qui kính biểu thị đính lễ. [X.luật Tứ phần Q. 1.; Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Q. 4.; Pháp Uyển Châu Lâm Q. 13.-20].