Quang Bội

《光背》 guāng bèi

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Hậu Quang, Quang diệm, Quang. Chỉ cho ánh sáng phía sau lưng của Phật, Bồ Tát, tượng trưng cho trí tuệ của các Ngài. Quang bối được chia làm 2 thứ là Đầu Quang và Cử thân quang.
1. Đầu Quang: Vốn chỉ cho ánh sáng phát ra từ sợi lông trắng khoảng giữa hai đầu chân mày, vì thế còn gọi là Mi gian quang. Theo họa Pháp Tượng trưng của hội họa Đông phương thì trong các bức họa, xung quanh diện mạo của nhân vật (Phật, Bồ Tát) thường vẽ 1 vòng sáng. Còn nghệ thuật điêu khắc Tả Chân của Cơ Đốc Giáo thì thường dùng 1 tấm ván mỏng đặt ở phía sau đỉnh đầu của pho tượng. Ở Ân Độ, để biểu hiện những đường nét đẹp của tượng Phật, các họa sĩthườngtạo 1 vòng ánh sáng trên đầu (Đầu Quang) pho tượng, với những vầng sáng như châu quang, hỏa diệm và những đường nét nhỏ nhuyễn biểu hiện như dáng phóng ra ánh sang (được gọi là Tuyến quang, Cân quang) ở phía sau giống như hình cái tàn, lọng... các vị thần Thủ hộ trong Phật giáo đều có Luân Bảo (bánh xe báu)hay hỏa diệm (những ánh lửa) làm quang bối.
2. Cử thân quang (cũng gọi Thân quang): Tức là ánh sáng phát ra từ toàn thân tượng Phật. Có nhiều loại, hoặc là Đầu Quang, và Thân quang trên dưới chồng lên nhau làm thành 2 lớp ánh sáng lớn và nhỏ; hoặc là ánh sáng hình chiếc thuyền, hoặc ánh sáng hình cánh sen... Ngoài ra còn có kiểu ánh sáng hừng lên chia thành nhữnggợn sóng, nghìn thể Phật... Trên ánh lửa thường có người trời, chim Ca Lăng Tần Già, chữ Phạm... để làm hình thức Trang Nghiêm. Ánh lửa của Minh Vương Bất Động mang hình dáng chim Ca lâu la (chim cánh vàng), ở trên có vẽ nghi quĩ. Tóm lại, Quang bối là vầng ánh sáng được vẽ hay chạm trổ ở phía sau lưng của tượng Phật, biểu thị ý nghĩa thân Phật có ánh sáng bao chung quanh. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; kinh Đà La Ni tập 12; Quảng Hoằng Minh Tập Q. 17.; Phật Tượng đồ vựng Q. 5.]. (xt. Quang Tướng).