Quảng Bác Tiên Nhân

《廣博仙人》 guǎng bó xiān rén

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Quảng bác, Phạm: Vyaøsa. Cũng gọi Tì da sa Tiên Nhân, Bà da sa Tiên Nhân, Tì a sa Tiên Nhân. Biệt Hiệu của ông Bạt Đa La diễn na (Phạm: Bàdaràyaịa), Tổ của phái Phệ đàn đa (Phạm: Vedànta) trong 6 pháiTriết học ở Ấn Độ. Vyàsavốn có nghĩa là người biên tập, người chỉnh đốn, là từ gọi chung các nhà soạn thuật, biên tập ở Ấn Độ vào thời thái cổ, nay thì đặc biệt chỉ cho Quảng Bác Tiên Nhân là người biên tập Kinh Điển Phệ Đà, vì tác phẩm của ông là bất hủ nên ông còn được gọi là Thường Trụ (Phạm: Sàzvata). Cứ theo truyền thuyết xưa của Ấn Độ thì Quảng Bác Tiên Nhân là con riêng của tiên Parasara do tư thông với vợ vua Satyavatìmà sinh ra. Vì ông được sinh ra trên1 hòn đảo nhỏ ở sông Yamunà nên đặt tên là Dvìpàyana (Đảo sinh); lại vì màu da ông đen kịt nên còn có tên là Kfwịa (Hắc Ám). Sau, Quảng bác muốn Xuất Gia, nhưng theo phép nước, việc ấy phải do mẹ ông đồng ý mới được, bởi vậy, Quảng bác bỏ ý định Xuất Gia và cưới 2 góa phụ làm vợ. Còn theo sách Phú Lan Na (Phạm: Puràịa) thì Quảng Bác Tiên Nhân là do Tì nữu thiên (Phạm: Viwịu) hoặc Phạm Thiên (Phạm: Brahmà) hóa hiện ra để biên soạn kinh Phệ Đà, đồng thời, Phú Lan Na có ghi sự tích của 28 vị Quảng Bác Tiên Nhân. Lại vì Tác Giả của Ma Ha Bà La Đa (Phạm: Mahàbhàrata), 1 trong 2 Đại sử thi của Ấn Độ, của sách Phú Lan Na (Phạm: Puràịa) và của Pháp luận (Phạm: Dharma-sàstra) đều kí tên làSàzvata. Như vậy, Sàzvata, tức là Quảng Bác Tiên Nhân – người biên tập Kinh Điển Phệ Đà ở trên–vàSàsvata, Tác Giả của Ma Ha Bà La Đa, Phú Lan Na và Pháp luận, là cùng 1 người hay khác nhau? Vấn đề này, cho đến nay, vẫn không được rõ. [X. kinh Đại bảo tích Q. 49.; Pháp hoa kinh văn cú Q. 9., thượng; Niết Bàn Kinh Nghĩa Kí Q. 6.; Đại Nhật Kinh Sớ diễn áo sao Q. 21.; A Classical dictionary of Hindu mythology byJ. Dowson].