Quang Âm Thiên
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Quang âm, Phạm: Àbhàsvara, Pàli: Àbhassara. Hán âm: A ba hội Đề Bà. Cũng gọi A ba hội thiên, A hội hỗ tu thiên, A ba hỗ tu thiên, A ba la thiên, A ba tối la già thiên. Hán dịch: Quang Âm Thiên, Thủy vô lượng thiên, Vô lượng Thủy Thiên, Cực Quang Tịnh Thiên, Cực quang thiên, Quang tịnh thiên, Biến thắng quang thiên, Hoảng Dục Thiên, Quang diệu thiên. Dịch mới: Cực Quang Tịnh Thiên. Một trongcác tầng trời cõi Sắc, tức là tầng trời thứ 3 của Đệ Nhị Thiền; tầng trời này ở trênVô lượng quang thiên và ở dưới Thiểu Tịnh Thiên. Chúng Sinh ở cõi trời này không có âm thanh, chỉ do ánh sáng phát ra từ định tâm để thay ngôn ngữ mà truyền đạt ý nghĩa, vì thế nên gọi Quang Âm Thiên. Chúng Sinh có nghiệp tương ứng bậc thượng phẩm cõi Nhị thiền được sinh về cõi trời này, được sắc tối thắng, thân cao 8 Do Tuần, sống lâu 8 đại kiếp, lấy sự vui mừng làm thức ăn, trụ trong An Lạc, ánh sáng tự nhiên, đầy đủ Thần Thông, có thể bay đi trong Hư Không. Luận Câu xá quyển 12 (Đại 29, 63 thượng) nói: Ban đầu có 1 hữu tình ở cõi trời Cực quang tịnh, chết đi, sinh xuống cõi trời Đại phạm làm Đại phạm vương. Sau, các hữu tình khác cũng từ cõi trời kia chết đi, sinh xuống cõi trời Phạm phụ, (...) dần dần sinh xuống nữa, cho mãi đến cõi người (...)Sau, sinh xuống ngã quỉ, Bàng Sinh, Địa Ngục. Đây có ý nói Chúng Sinh hữu tình của Thế Giới Sa Bà này chính đã từ cõi trời Cực quang tịnh (Quang Âm Thiên) và lần lần sinh xuống. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 34 thì nói rằng: Lúc Kiếp Sơ, các Thiên tử từ cõi trời Quang âm đến Thế Gian này nếm thử mùi ngon của đất, người ăn ít thì Thân Thể không nặng nề, không mất thần túc nên vẫn bay về được; còn người ăn nhiều thì Thân Thể nặng nề, mất hết thần túc nên không bay trở về cõi trời được nữa. Ngoài ra, 1 bộ chúng của Ngoại Kim Cương viện thuộc Mạn Đồ La Thai Tạng Giới Mật giáo cũng đã xuất thân từ cõi trời Quang âm này. [X. kinh Trường a hàm Q. 20.; kinh Khởi thế Q. 7.; kinh Đại lâu thán Q. 4.; Bí Tạng Kí].