Quán Pháp

《觀法》 guān fǎ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phương pháp Quán Tưởng Chân Lí, là Pháp Môn thực hành phổ thông của Phật giáo. Những dụng ngữ đồng loại có: Quán, tu quán, quán niệm, Quán Tưởng, Quán Hành, quán sát, quán môn... gọi chung là Quán Pháp. Quán (Phạm: Vipazyanà; Hán âm: Tì bát xá na), nghĩa là dùng trí tuệ chuyên tâm Quán Tưởng một đối tượng đặc biệt nhất định như Phật hoặc pháp... và dốc toàn lực vào việc chứng ngộ. Chẳng hạn như Nhật Tưởng Quán (Quán Tưởng mặt trời), Nguyệt Luân Quán (Quán Tưởng mặt trăng), Cửu Tưởng quán... đều là Quán Tưởng 1 đối tượng cụ thể trong tâm, đây là pháp quán bước đầu. Sau đó lại tiến thêm bước nữa là thông qua đối tượng cụ thể ấy để Quán Tưởng giáo nghĩa sâu xa hoặc triết lí của Phật giáo. Các kinh luận có bàn nói rất nhiều về Quán, như kinh Đại an ban thủ ý, kinh Ấm trì nhập, kinh Tu Hành Đạo địa, kinh Thiền yếu, kinh Nội thân quán chương cú, kinh Pháp quán, kinh Thân quán, kinh Thiền Bí Yếu pháp, kinh Tọa Thiền Tam Muội, kinh Bồ Tát ha sắc Dục Pháp, Thiền Pháp Yếu Giải, Tư duy lược yếu pháp, kinh Đạt Ma Đa La thiền, Ngũ Môn Thiền kinh yếu dụng pháp... tất cả đều giải thích rõ về Quán Pháp. Quán có rất nhiều loại, mà phương pháp và mục đích cũng đều khác. Nay liệt kê các uán pháp tương đối có tính cách đại biểu như sau:
1. Quán Pháp về Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên mà Phật giáo nguyên thủy nhấn mạnh: Như quán 4 đế gọi là Tứ Đế Quán; quán 12 Nhân Duyên gọi là Thập nhi Nhân Duyên Quán; quán hơi thở ra vào gọi là Sổ tức quán; quán thân Bất Tịnh gọi là Bất Tịnh Quán; quán các hành vô thường gọi là Vô thường quán; quán các pháp Vô Ngã gọi là Vô Ngã quán; quán 4 cái chẳng thường (vô thường, khổ, không, Vô Ngã) gọi là Phi thường quán; quán 5 cách dừng vọng tâm gọi là Ngũ Đình Tâm Quán; quán 4 Niệm Xứ gọi là Tứ Niệm Xứ quán.
2. Quán Pháp phân tích các pháp sắc, tâm là không: Đối với Tiểu Thừa, như quán không gọi là Không Quán; quán Sinh Không gọi là Sinh Không Quán; quán Pháp Không gọi là Pháp Không Quán; phân tích sắc là không gọi là Tích Không Quán. Đối với Đại Thừa, như thấu suốt đương thể của các pháp tức không gọi là Thể Không Quán; quán Thắng Nghĩa đều không gọi là Thắng Nghĩa giai Không Quán.
3. Quán Pháp về Tam Đế Không, Giả, Trung của tông Thiên thai: Như quán giả gọi là Giả quán; quán từ giả vào không gọi là Nhị Đế Quán; quán Từ Không vào giả gọi là Bình Đẳng Quán; quán Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế gọi là Trung Đạo quán; tu 3 quán theo thứ tự gọi là Thứ Đệ quán; trong 1 Tâm Quán 3 đế gọi là Nhất Tâm Tam Quán.
4. Quán Pháp của tông Hoa nghiêm quán xét về thực tướng các pháp: Như quán thực tướng gọi là Thực tướng quán; quán 4 Pháp Giới gọi là Tứ Pháp Giới Quán.
5. Tông Pháp tướng có Quán Pháp quán 3 cõi Duy Tâm: Như quán 5 lớp Duy Thức gọi là Ngũ Trùng Duy Thức quán.
6. Quán Pháp trọng yếu của tông Tam Luận: Như quán bát bất Trung Đạo gọi là Bát bất Trung Đạo quán.
7. Quán Pháp quan trọng của tông Chân Ngôn: Như quán 5 tướng của tâm Bồ Đề thanh tịnh gọi là Ngũ Tướng Thành Thân Quán.
8. Quán Pháp trọng yếu của tông Tịnh Độ: Như quán mặt trăng gọi là Nguyệt Luân Quán; quán nước gọi là Thủy Tưởng Quán; quán đất ở cõi Tịnh Độ gọi là Địa quán; quán tòa hoa sen gọi là Hoa tòa quán; quán Hình Tượng gọi là Tượng quán; quán Chân Thân của Phật gọi là Chân Thân Quán; quán ứng thân của Phật gọi là Ứng thân quán; quán tướng chung của thân Phật gọi là Tổng tướng quán; quán tướng riêng gọi là Biệt Tướng quán. Quán đối lại với Chỉ (Phạm:Zamatha, Hán âm: Xa ma tha, tức là Công Phu Chú Tâm vào 1 đối tượng, ngăn dứt vọng niệm), Trung Đạo quán tuy cũng gọi là Quán nhưng là Chỉ Quán song tu, nghĩa là Quán hợp với Xả (Phạm:Upekwà, Hán âm: Ưu tất xoa). Cho nên, các loại Quán được trình bày ở trên tuy gọi chung là Tì bát xá na, nhưng Trung Đạo quán thì có nghĩa khác. Đối cảnh bị quán gọi là Quán cảnh; trí tuệ Tác Quán gọi là Quán trí hoặc Quán tuệ; tư duy về Chân Lí và hiểu rõ về Chân Lí gọi là Quán giải; quán các pháp vô ngại mà đạt được diệu lí Tam Đế viên dung chẳng thể nghĩ bàn gọi là Quán đạt. Ngoài ra, trong các Quán Pháp của tông Thiên thai, có Nhất Niệm Tam Thiên, Nhất Tâm Tam Quán là quán về bản tính của tâm mình, vì thế nên cũng gọi là Quán Tâm. Còn tông Hoa nghiêm thì lấy Quán Pháp làm con đường thông vào cảnh giới giác ngộ, nên gọi là Quán đạo. [X. kinh Đại Bát Niết Bàn Q. 31. (bản Bắc); luận Vãng sinh; luận Câu xá Q. 28.; luận Du Già sư địa Q. 45.; Vãng Sinh Luận chú Q.hạ; Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q. 10.; Ma Ha Chỉ Quán Q. 3. thượng; Đại Thừa Nghĩa Chương Q. 10.].