Phương Tiện
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s, Pāli: upāya: âm dịch là Âu Ba Da (漚波耶) một trong 10 Ba La Mật, còn gọi là Thiện Quyền (善權), Biến Mưu (變謀), chỉ sự uyển Chuyển Biến đổi tùy theo Hoàn Cảnh, Không Gian, thời gian; cũng là một loại phương pháp phát triển Hướng Thượng. Trong các kinh luận Phật Giáo thường dùng từ này, quy nạp lại thì ý nghĩa của nó có thể phân làm 4 loại: (1) Đối với pháp Chân Thật mà nói, là Pháp Môn giả lập ra để dẫn dụ Chúng Sanh đi vào pháp Chân Thật; nên được gọi là Quyền Giả Phương Tiện (權假方便), Thiện Xảo Phương Tiện (善巧方便); tức chư Phật, Bồ Tát tùy theo Căn Cơ của Chúng Sanh để dùng các loại phương pháp ban cho Lợi Ích. (2) Đối với Thật Trí (實智) của Bát Nhã mà nói. Theo Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註) quyển hạ của Đàm Loan (曇鸞, 476-?), Bát Nhã là đạt đến tuệ như như, Phương Tiện là thông trí quyền xảo; nên lấy Quyền Trí (權智) để Quán Chiếu những Sai Biệt hiện ra trong Bình Đẳng Thật Trí (平等實智). (3) Hai trí quyền và thật đều là Pháp Môn do chư Phật, Bồ Tát thường dùng để hóa độ Chúng Sanh. (4) Là hạnh gia trì, tu tập để chúng ngộ chân lý. Lại nữa, trong 12 Phương Tiện của Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) quyển 15 do Huệ Viễn (慧遠, 523-592) nhà Tùy trước tác, Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄讚) của Khuy Cơ (窺基, 632-682), cũng có nêu ra 4 loại Phương Tiện khác, gồm: (1) Tấn Thú Phương Tiện (進趣方便), giống như 7 Phương Tiện trước khi Ngộ Đạo, tức sự chuẩn bị hướng đến Bồ Đề. (2) Quyền Xảo Phương Tiện (權巧方便), như Phương Tiện Trí trong 2 Loại Trí tuệ, lấy Pháp Môn của Ba Thừa để tùy theo vật mà Quyền Hiện. (3) Thí Tạo Phương Tiện (施造方便, hay Thí Vi Phương Tiện [施爲方便]), như Phương Tiện Ba La Mật (方便波羅蜜) trong 10 Ba La Mật, tức làm những việc Thiện Xảo để đạt đến mục đích lý tưởng. (4) Tập Thành Phương Tiện (集成方便), Như Thuyết về 6 tướng của Thập Địa Kinh Luận (十地經論), các pháp đồng thể nhưng biến tướng Hiện Thành, nghĩa là Bản Chất của các pháp đều như nhau; trong một có tất cả, và trong tất cả cũng thành một. Hơn nữa, theo Pháp Hoa Văn Cú (法華文句) quyển 7 của Đại Sư Trí Khải (智顗), có nêu ra 3 loại Phương Tiện là Pháp Dụng (法用), Năng Thông (能通) và Bí Diệu (祕妙); ứng với đối tượng của Tam Giáo Tạng (藏), Thông (通) và Biệt (別). Tịnh Danh Kinh Sớ (淨名經疏) lại đề cập đến 3 loại Phương Tiện khác là Tự Hành (自行), Hóa Tha (化他) và Tự Tha (自他), v.v. Câu “Từ Tâm vô lượng, quảng khai Phương Tiện chi Huyền Môn (慈心無量、廣開方便之玄門)” trong lòng văn sớ trên có nghĩa là với tâm từ bi vô lượng, chư Phật đã mở rộng cánh cửa vi diệu của Phương Tiện để cứu độ Chúng Sanh; cho nên hình thức cúng Cầu Siêu, Cầu An cũng là Phương Tiện trong muôn vàn Phương Tiện khác của Phật Giáo.