Phú Lan Na
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Puràịa. Danh từ gọi chung các Thánh Điển của Ấn Độ Giáo cổ đại. Thánh Điển này được viết thành sách vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch đến thế kỉ X và lưu truyền đến ngày nay. Có thể chia làm 2 loại: Đại Phú Lan Na (Phạm: Mahàpuràịa) và Tục Phú Lan Na (Phạm: Upapuràịa). Mỗi loạilạiđược chia làm 18 bộ. Đại Phú Lan Na nói về phép cúng tế, tập tục... là Kinh Điển y cứ của các giáo phái, bao gồm 18 thứ Phú Lan Na: Phạm Thiên, Liên Hoa, Tì thấp nô, Phong thần, Bạc Già Phạm, Na la đà, Ma căn đức da, Hỏa thần, Vị lai, Phạm chuyển, Lâm già, Dã trư, Thất Kiến đà, Chu nho, Qui, Ngư, Đại bằng và Phạm noãn. Tục Phú Lan Na thì bao gồm 5 tướng điển hình (Phạm: Paĩcalakwaịa) của Phú Lan Na: Vũ trụ sáng tạo (Phạm: Sarga), Thế Giới thành hoại (Phạm: Pratisarga), Hệ phổ của các thần tiên (Phạm: Vaôza), Sự cai trị Thế Gian của Ma noa (Phạm: Manvantara) và Hệ phổ của vương thống dòng Nhật Chủng, Nguyệt Chủng (Phạm: Vaôzànucarita). Phú Lan Na mang đặm sắc thái Ấn Độ Giáo, mỗi giáo phái đều rút tỉa lấy nội dung của sách này để giải Thích Giáo nghĩa của phái mình. Bởi thế, theo sự biến thiên của thời đại và địa vực, Phú Lan Na cũng đã mất đi cái phong cách nguyên thủy của nó. Tuy nhiên, trên đại thể, vì nội dung Phú Lan Na chứa đựng những thành phần như tập tục, truyền thống, triết học thông tục, y học, kiến trúc, Thi Ca, âm nhạc... nên nghiễm nhiênnóđã trở thành tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu văn hóa Ấn Độ cổ đại. Có thuyết cho rằng người biên soạn sách này cũng chính là Tì da sa (Phạm: Vyàsa) – soạn giả của thiên anh hùng ca Ma Ha Bà La Đa (Phạm: Mahàbhàrata).