Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập

《翻譯名義大集》 fān yì míng yì dà jí

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Mahāvyutpatti. Tạng: Lo-paṇmaṅ-pos mdsad-paḥi bye-brag-tu rtogs-parbyed-pa chen-po (gọi tắt:Bye-brag-tu rtogs che). Từ điển gồm 4 thứ ngôn ngữ: Phạm, Tây tạng, Hán, Mông cổ đối chiếu, thu chép những thuật ngữ và danh từ chuyên môn thường dùng trong giáo điển Phật giáo, rồi phân loại, nêu Thí Dụ và giải thích các thuật ngữ này. Khoảng thế kỉ IX, các học giả từ Ấn Độ đến Tây tạng phần nhiều dùng tự vựng Phạm Tạng đối dịch làm tiêu chuẩn để Dịch Kinh. Ban đầu chỉ có Phạm, Tạng, sau mới thêm Hán và Mông cổ, nhưng được thêm vào thời đại nào thì không rõ. Về bộ phận Hán dịch, trong văn tự được sử dụng để dịch âm hay dịch ý đều không thấy có trong các kinh được dịch vào các đời Đường, Tống, cứ đó suy ra thì có thể biết phần Hán dịch trong Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập được thực hiện vào khoảng thời đại từ Nguyên đến Thanh. Năm 1822, nhà Thám Hiểm người Hungary là ông Csoma de Kôrôss A. đến Tây tạng nghiên cứu văn học và Tông Giáo, năm 1831 ông mới phát hiện bản Phạm Tạng của sách này. Năm 1853, đội Thám Hiểm Đông dương của nước Nga tìm được bản viết đối dịch bằng 4 thứ tiếng Phạm, Tạng, Hán, Mông cổ ở Bắc kinh, Trung Quốc và đưa về cất giữ tại thư viện Đại học Đế quốc ở Saint Petersburg. Năm 1856-1857, học giả Đông phương học người Pháp là các ông E. Foucaux, S. Julien, đem giới thiệu sách này với châu Âu, ông E. Foucaux phụ trách phần Phạm, Tây tạng, còn ông S. Julien thì phụ trách phần Hán, Mông cổ. Đến năm 1887, học giả Đông phương học người Nga là ông I.P. Minayeff khảo xét lại phần Phạm Tạng rồi đem công bố. Về sau, các ông Nam Điều Văn Hùng, Lạp nguyên Nghiên thọ, người Nhật bản, chép tay bản Phạm Hán ở Paris. Sau đó, lại có các ông Địch Nguyên Vân Lai và Thần lượng Tam lang nghiên cứu, rồi lần lượt xuất bản Phạm Hán Đối Dịch Phật Giáo TừĐiển(Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập) và Phạm Tạng Hán Hòa Tứ Đối Dịch Giáo Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập vào các năm Đại chính tứ 4 và thứ 5 (1915- 1916).