Phất Tử
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: vyajana, vāla-vyajana, Pāli: vijanī: một loại vật dụng xưa kia người ta lấy lông thú v.v., cột thành bó, buộc vào cây dài, dùng để xua đuổi muỗi mòng, quét bụi bặm; còn gọi là Phất (拂), Phất Trần (拂塵), Trần Vĩ (塵尾). Như trong Tùy Đường Diễn Nghĩa (隋唐演義) hồi thứ 3 có đoạn: “Tả hữu nữ tỳ sổ nhân, dã hữu chấp cân trất đích, dã hữu kình Hương Lô đích, dã hữu bổng Như Ý đích, dã hữu trì Phất Tử đích, lưỡng biên thị lập (左右女婢數人、也有執巾櫛的、也有擎香爐的、也有捧如意的、也有持拂子的、兩邊侍立, hai bên phải trái nữ hầu vài người, cũng có người cầm khăn lượt, cũng có người mang lò hương, cũng có người vác cây Như Ý, cũng có kẻ cầm cây Phất Trần, đứng hầu hai bên).” Loại này rất thông dụng tại Ấn Độ. Trong giới luật của Phật Giáo, cho phép vị Tỳ Kheo cầm cây Phất Trần này để xua đuổi muỗi mòng xâm hại; nhưng cấm tuyệt đối không được dùng loại Phất Trần làm bằng các loại vật dụng trân quý, như trường hợp Bạch Phất (白拂, Phất Trần Trắng). Căn cứ vào Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (有部毘奈耶雜事) quyển 6, đức Phật từng cho phép Tỳ Kheo dùng loại Phất Trần được chế bằng 5 loại chất liệu như sau: (1) Lông dê, (2) Cây gai, (3) Vải lông mịn nhỏ, (4) Vật cũ đã dùng rồi, (5) Cành cây, vỏ cây. Bạch Phất là loại Phất Trần được làm bằng lông con bò hay ngựa trắng, là vật rất quý trọng. Trong kinh thường thấy vị Bồ Tát hay Trưởng Giả tay cầm Bạch Phất; như trong Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經) quyển 6 có ghi rằng đức Quan Âm cầm Bạch Phất tay trái và Phổ Hiền cầm tay phải. Hay khi đức Phật lên cung Trời Đao Lợi (Sanskrit: Trāyastriṃśa, Pāli: Tāvatiṃsa 忉利) Thuyết Pháp cho mẹ rồi trở về lại hạ giới, Phạm Thiên thường cầm cây Bạch Phất hầu bên phải đức Phật. Về phía Mật Giáo, Bạch Phất được dùng để tượng trưng cho khử bỏ Phiền Não, trừ chướng nạn. Như Thiên Thủ Quan Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (千手觀音大悲心陀羅尼經) có đề cập đến trong 40 tay của Thiên Thủ Quan Âm có 1 tay cầm cây Bạch Phất. Hay trong Tôn Thắng Phật Đảnh Tu Du Già Pháp Quỹ Nghi (尊勝佛頂修瑜伽法軌儀) quyển Thượng có ghi rằng mỗi khi Hành Giả xuất hành, thường cầm theo cây Bạch Phất, tụng Chơn Ngôn gia trì 108 biến; nếu khi đang đi gặp súc sanh, có thể khiến cho những loài đó lìa khổ, giải thoát. Trong Thiền Tông, chư vị Thiền Sư dùng Phất Trần như là vật dụng Trang Nghiêm; từ đó, vị Trú Trì hay người đại diện cầm cây Phất Trần Thượng Đường vì đại chúng Thuyết Pháp, được gọi là Bỉnh Phất (秉拂). Khi ấy, Phất Trần tượng trưng cho sự Thuyết Pháp. Dần dần chức vụ chấp hành Bỉnh Phất có 5 loại, gọi là Bỉnh Phất Ngũ Đầu Thủ (秉拂五頭首), gồm: Tiền Đường Thủ Tòa (前堂首座), Hậu Đường Thủ Tòa (後堂首座), Đông Tạng Chủ (東藏主), Tây Tạng Chủ (西藏主), Thư Ký (書記). Tại Nhật Bản, Phất Trần được sử dụng từ Thời Đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333). Về sau, trừ Chơn Tông ra, các Tông Phái khác đều dùng Phất Trần trong trường hợp các Pháp Hội, lễ Quán Đảnh, tang lễ, v.v. Tại Việt Nam, Phất Trần được dùng phần lớn trong tang lễ mà thôi.