Phật Giáo Lịch Pháp

《佛教曆法》 fó jiào lì fǎ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Lịch pháp của Phật giáo, tức là Phạm Lịch đời cổ. Lịch Pháp Thiên văn nói trong kinh Phật là loại lịch pháp được thông dụng ở thời bấy giờ. Lịch pháp này là Phật giáo căn cứ vào thuyết núi Tu di mà thành lập. Phạm Lịch lấy khoảng thời gian từ ngày 16 (ngày trăng tròn) tháng này đến ngày 15 tháng sau làm 1 tháng. Khoảng thời gian từ ngày 16 đến ngày 30 (hoặc 29 nếu là tháng thiếu), gọi là Hắc phần (phần đen) hoặc Hắc Nguyệt (tháng đen). Từ ngày mồng 1 (trăng nhú) đến ngày 16 (trăng tròn) gọi là Bạch phần (phần trắng) hay Bạch Nguyệt (tháng trắng). Cho nên, 1 tháng theo Phạm Lịch tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 âm lịch đến ngày 15 tháng sau. Tên của 12 tháng trong 1 năm theo Phạm Lịch đối chiếu với Nông lịch (âm lịch) được đồ biểu như sau. (thiếu biểu đồ). Trong đó, từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 3 là thời gian không khí nóng dần lên; từ ngày 16 tháng 3 đến 15 tháng 5 là thời gian rất nóng; từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 7 là thời gian mưa nhiều, từ ngày 16 tháng 7 đến 15 tháng 9 là thời gian cây cỏ tốt tươi, từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng 11 là thời gian khí hậu lạnh dần, từ ngày 16 tháng 11 đến 15 tháng giêng năm sau là thời gian khí hậu rất lạnh; trên đây gọi là Tuế phân lục thời (1 năm chia làm 6 mùa), gọi tắt là Lục thời. Trong lục thời, thời gian nóng dần và thời gian rất nóng được gộp chung lại gọi là Nhiệt thời hoặc Nhiệt tế; thời gian mưa nhiều và thời gian cây cỏ tốt tươi gộp chung lại gọi là Vũ thời hoặc Vũ tế (mùa mưa); thời gian lạnh dần và thời gian rất lạnh gộp chung lại gọi là Hàn thời hoặc Hàn tế (mùa lạnh). Trên đây gọi là Tam Thời hoặc Tam Tế. Nhưng vấn đề Tam Tế được phối hợp như thế nào với ngày tháng thì có nhiều thuyết khác nhau. Điều được trình bày trên đây là căn cứ theo thuyết của ngài Chân Đế của Đại Đường Tây Vực Kí. Ngoài ra cũng có thuyết sớm hơn 1 tháng hoặc sớm hơn 2 tháng. Thời gian từ tháng Chế Đát La đến tháng Thệ sắt tra là Xuân; thời gian từ tháng Át sa đồ đến tháng Bà Đạt La Bát Đà là Hạ; thời gian từ tháng A thấp phạ dữu xà đến tháng Mạt già thủy la là Thu; thời gian từ tháng Báo sa đến tháng Phả lặc lũ noa là Đông. Trên đây cũng gọi là Tứ thời (4 mùa). Cũng có thuyết chia làm Đông, Xuân, Vũ, Chung và Trường gọi là Ngũ thời. (xt. Phật Giáo Thiên Văn Học)