Phật Giáo Ngạn Ngữ Lí Ngữ

《佛教諺語俚語》 fó jiào yàn yǔ lǐ yǔ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Những dụng ngữ Phật giáo được dùng như những tục ngữ quen thuộc trong dân gian.Vì tục ngữ và ngạn ngữ có tính Chất Trực tiếp biểu lộ những trạng thái xã hội, phản ánh đặc trưng của phong tục, cho nên vài mươi năm gần đây dần dần đã được giới học thuật chú ý và xem là những tư liệu quan trọng để nghiên cứu Dân Tục học và Ngôn ngữ học. Như khi nghiên cứu về Tên gọi 12 tháng
1. Chế đát na, Chế Đát La, Tổ đát la, Đát la
2. Phệ Xá Khư, Tô xá khư
3. Thệ sắt tra, Tế sử tra
4. Át sa đồ, A sa đồ, A sa xá
5. Thất la phạt noa, Thất la phiệt noa, Thất ra phạ na
6. Bà Đạt La Bát Đà, Bà Đạt la bạt đà, Bà nại La Bà na
7. A thấp phược dữu xà, A thấp bà dữu xà, A thấp phạ dụ nhã
8. Ca lạt để ca, Ca lật để ca, Yết lật để ca, Ca đề
9. Mạt ca thủy la, Ma ra nga thủy la
10. Báo sa, Phú sa, Bảo sa, Bố sử
11. Ma Khư, Ma già, Mạc già
12. Phả lặc lũ noa, Phả lạc cụ na, Phả cầu na, Phá cầu. Tên Phạm Caitra Vaizàkha Jyewỉha Àwàđha Zravana Bhàdrapada Azvayuja Kàrttika Mfgaziras Pauwa Màgha Phàlguna Nông lịch (âm lịch) Trọng xuân, 16 tháng 1 đến 15 tháng 2 Quí xuân, 16 tháng 2 đến 15 tháng 3 Mạnh hạ, 16 tháng 3 đến 15 tháng 4 Trọng hạ, 16 tháng 4 đến 15 tháng 5 Quí hạ, 16 tháng 5 đến 15 tháng 6 Mạnh thu, 16 tháng 6 đến 15 tháng 7 Trọng thu, 16 tháng 7 đến 15 tháng 8 Quí thu, 16 tháng 8 đến 15 tháng 9 Mạnh Đông, 16 tháng 9 đến 15 tháng 10 Trọng Đông, 16 tháng 10 đến 15 tháng 11 Quí đông, 16 tháng 11 đến 15 tháng 12 Mạnh Xuân, 16 tháng 12 đến 15 tháng 1 lịch sử Phật giáo Trung Quốc, thì tư liệu tục ngữ, ngạn ngữ có thể cho thấy một cách đại khái cái tình hình truyền bá Phật giáo trong dân gian, sức ảnh hưởng của Tín Ngưỡng Phật giáo trong đời sống của dân chúng phổ thông, hoặc phản ứng của tâm thái dân chúng đối với giáo nghĩa, hành sự...… của Phật giáo, cho đến tình hình do phong tục tập quán bất đồng của các địa phương mà biểu hiện văn hóa Phật giáo rất khác nhau. Như câu tục ngữPhật cần thếp vàng, người cần trang phục phản ánh phong tục người Trung Quốc thường sơn son thếp vàng tượng Phật. Hoặc câu Nhà nhà Quan thế âm, chốn chốn A di đànói lên sự toàn thịnh của Phật giáo Trung Quốc ở đời Đường. Những câuBình thường chẳng thắp hương, lâm nạn ôm Chân Phật; Có bệnh vái tứ phương, không bệnh đồng hương chẳng mất, phản ánh cái đặc chất Tín Ngưỡng của giới bình dân, tức Tín Ngưỡng Tông Giáo chỉ cầu cái lợi trước mắt. Những câuThà ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối,hoặc Chẳng thà ăn mặn Niệm Phật còn hơn ăn chay chửi mắng người,biểu hiện thái độ phê phán Tông Giáo một cách thực tiễn của dân chúng. Câu Vua Diêm la Quyết Định canh ba thì không thể đợi đến canh năm phản ánh tâm thái của dân chúng đối với Quả Báo Thiện Ác. Ở Trung Quốc, những sách quan trọng sưu tập những ngạn ngữ, tục ngữ liên quan đến sinh hoạt Tông Giáo thì có:
1. Trung Quốc ngạn hải của Sử tương tai, ấn hành tại Thượng hải năm 1927, thu chép tổng cộng hơn 14.000 tắc.
2. Thâu quá lí ngạn sở Quan Sát đích Trung Quốc Tông Giáo, do Khắc lí ba biên soạn, thu chép tất cả 2.448 tắc.
3. Bắc kinh tục ngữ từ điển, do học giả Nhật bản Hạ vĩnh Hiến thứ soạn.
4. Anh Hán đối chiếu Trung Quốc tục ngạn, do ông Duy phu lí đức á lan biên soạn, gồm 4.000 tắc.
5. Cải biên Trung Quốc tục ngạn, do ông Điểu Cư Cửu tĩnh người Nhật soạn. [X. Trung Quốc Phật giáo phát triển sử (chương 17) của ông Trung thôn nguyên].