Pháp Vương

《法王》 fǎ wáng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: dharma-rāja, Pāli: dhamma-rāja: có mấy nghĩa chính. (1) Là tôn xưng của đức Phật. Vương () có nghĩa là tối thắng không ai bằng, Tự Tại, không ngăn ngại; đức Phật là Chủ Tể các Pháp Môn, có thể giáo hóa Chúng Sanh một cách Tự Tại, nên được gọi là Pháp Vương. Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (, Taishō Vol. 12, No. 360) giải thích rằng: “Phật vi Pháp Vương tôn siêu chúng Thánh, phổ vị Nhất Thiết thiên nhân chi sư (, đức Phật là vua pháp, tôn kính hơn các bậc Thánh, là thầy của khắp tất cả trời người).” Hay trong Thích Ca Phương Chí (, Taishō Vol. 51, No. 2088) quyển Thượng cho biết thêm rằng: “Phàm nhân Cực Vị danh viết Luân Vương, Thánh Nhân Cực Vị danh viết Pháp Vương (, ngôi vị cao tột của người phàm gọi là Luân Vương, ngôi vị cao tột của bậc Thánh là Pháp Vương).” (2) Là tôn xưng của vị Bồ Tát. Căn cứ vào Kinh Hoa Nghiêm quyển 27 cho biết rằng vị Bồ Tát khi thọ chức, chư Phật lấy nước trí tuệ rưới lên đỉnh đầu để cho vị ấy đầy đủ Mười Lực của đức Phật, có thể chuyển hóa 10 con đường thiện, nên được gọi là Quán Đảnh Pháp Vương (). Theo Đại Bảo Tích Kinh (, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 27, vì vị Bồ Tát có đủ 4 việc, nên được gọi là Pháp Vương. Bốn việc đó là không bỏ Đạo Tâm; khuyến hóa người khác phát ý; lấy gốc của các đức mà khuyên giúp Đạo Tâm; khiến cho hết thảy Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương, các bậc Thanh Văn cũng như Duyên Giác, đạt đến nghiệp cùng tận không hoại. (3) Là tên gọi khác của vua Diêm Ma () dưới cõi u minh. (4) Là phong hiệu vị thủ lãnh của Phật Giáo Tây Tạng. Bắt đầu từ năm 1270 (Chí Nguyên [] thứ 7) đời vua Thế Tổ Hốt Tất Liệt (, tại vị 1260-1271, 1271-1294) nhà Nguyên, nhà vua phong cho Bát Tư Ba (), thủ lãnh của Phái Tát Ca (), là Đại Bảo Pháp Vương (). Đến năm 1406 (Vĩnh Lạc [] thứ 4), vua Thành Tổ (, tại vị 1402-1424) nhà Minh cho mời Cáp Lập Ma (), vị Lạt Ma thủ lãnh của Phái Ca Nhĩ Cư () đến Bắc Kinh, rồi đến năm sau thì phong cho vị này là Vạn Hạnh Cụ Túc Thập Phương Tối Thắng Viên Giác Diệu Trí Tuệ Thiện Phổ Ứng Hựu Quốc Diễn Giáo Như Lai Đại Bảo Pháp Vương Tây Thiên Tự Tại Phật (西), gọi tắt là Đại Bảo Pháp Vương. Từ đó về sau, lại Phân Biệt phong cho các vị Lạt Ma Thượng Thủ của hai phái Tát Ca và Cách Lỗ ()Đại Thừa Pháp Vương (), Đại Từ Pháp Vương (). (5) Về phía Nhật Bản, dưới Thời Đại Nại Lương (, Nara, 710-794), có Thiếu Tăng Đô Đạo Kính (, Dōkyō, ?-772), tăng sĩ của Pháp Tướng Tông, thường ra vào cung nội, được Thiên Hoàng sủng ái, ban tặng cho hiệu là Đại Thần Thiền Sư (). Rồi đến năm 766 (Thiên Bình Thần Hộ [] thứ 2), ông được ban cho chức vị Pháp Vương. Ngoài ra, Thánh Đức Thái Tử (, Shōtoku Taishi, 574-622) cũng được tôn xưng là Thánh Đức Pháp Vương () hay Đại Pháp Vương Hoàng Thái Tử (). Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) có bài kệ Tán Phật (): “Pháp Vương vô thượng tôn, Tam Giới vô luân thất, thiên nhân chi đạo sư, Tứ Sanh chi từ phụ, ngã kim tạm quy y, năng diệt Tam Kỳ nghiệp, xưng dương nhược Tán Thán, ức kiếp mạc năng tận (, đấng Pháp Vương vô thượng, Ba Cõi chẳng ai bằng, thầy dạy khắp trời người, cha lành chung Bốn Loại, con nay tạm quy y, dứt sạch nghiệp Ba Kỳ, xưng dương và Tán Thán, ức kiếp không cùng tận).”