Pháp Nhãn Tịnh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Dharmacakwu-vizuddha. Cũng gọi Tịnh Pháp nhãn, Thanh Tịnh Pháp nhãn. Chỉ cho con mắt có khả năng thấy suốt Chân Lí các pháp mà không nghi ngờ, không bị chướng ngại. Cứ theo Duy Ma Kinh Lược Sớ quyển 4 của ngài Cát Tạng, thì hàng Sơ quả Tiểu Thừa thấy lí Tứ Thánh Đế và bậc Sơ địa Đại Thừa được pháp chân thực vô sinh, đều gọi là Pháp Nhãn Tịnh. Theo luận Đại tì Bà Sa quyển 66, trước giai vị Kiến Đạo vẫn chưa hoàn toàn dứt hết vọng hoặc, những Hành Giả đoạn trừ 5 phẩm hoặc của cõi Dục mà vào giai vị Kiến Đạo, Sinh Pháp nhãn thanh tịnh, thì được quả Dự lưu; các Hành Giả đoạn trừ các phẩm hoặc thứ 6, thứ 7, Sinh Pháp nhãn thanh tịnh, thì được quả Nhất lai. Còn những Hành Giả đã đoạn trừ cả 9 phẩm hoặc ở cõi Dục, cho đến đoạn trừ các vọng hoặc của cõi Vô sở hữu xứ, Sinh Pháp nhãn thanh tịnh, thì Chứng Quả Bất hoàn. Pháp nhãn nói ở đây khác với Pháp nhãn trong Ngũ Nhãn. Pháp nhãn trong Ngũ Nhãn tưong đương với Pháp Nhãn Tịnh của Đại Thừa, chỉ Bồ Tát mới có, chứ hàng Nhị Thừa thì không. Vả lại, Pháp nhãn của Tiểu Thừa thì hàng Sơ quả thấy lí Tứ Thánh Đế, còn Pháp nhãn của Đại Thừa thì phải là bậc Sơ địa đã được pháp vô sinh chân thực mới có. [X. kinh Pháp hoa Q. 7.; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luật Tứ phần Q. 32.; Chú Duy Ma Cật Kinh Q. 1.].