Pháp Nguyệt
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
(653-743) Phạm: Dharmacandra. Hán âm: Đạt Ma chiến niết la. Cao Tăng người Đông Ấn Độ, có chỗ nói sư là người nước Ma đề. Sư từng du học ở Trung Ấn Độ, thông hiểu Tam Tạng và y học. Sau, sư đến nước Cưu tư dạy học. Do sự tiến cử của quan Tiết độ sứ An tây, năm Khai nguyên 20 (732), sư đến kinh đô Trường an, Trung Quốc, cống hiến các bộ sách thuốc, Phương Thuật, y phương bằng tiếng Phạm và kinh Đại uy lực Ô xu sắt ma Minh Vương gồm 3 bộ, 4 quyển, do ngài A Chất Đạt Tản (Vô năng thắng), người Bắc Ấn Độ dịch ở An tây. Còn sư thì dịch Phương dược bản thảo và Phổ thông Trí Tạng Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh 1 bộ. Năm Khai nguyên 23 (735), sư biên soạn thành Ngự Chú Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật đa kinh tuyên diễn 2 quyển. Về sau, gặp lúc loạn lạc, sư dời đến ở chùa Kim Luân tại nước Vu điền. Năm Thiên bảo thứ 2 (743), sư Thị Tịch, thọ 91 tuổi. [X. Tục Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.thượng; Trinh nguyên tân định Thích Giáo Mục Lục Q. 14.].