Pháp Lạp

《法臘、法臈》 fǎ là fǎ là

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: chỉ số năm thọ An Cư mùa Hạ của tăng sĩ sau khi thọ giới Cụ Túc; còn gọi là Pháp Tuế (), Hạ Lạp (), Pháp Hạ (), Giới Lạp (), Tăng Lạp (), Tọa Lạp (), Tọa Hạ Pháp Lạp (). Thông thường trong tòng lâm, hằng năm từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 7 Âm Lịch, có tổ chức cử hành An Cư Kiết Hạ, lấy ngày cuối cùng làm ngày chấm dứt 1 năm, tức là ngày nhận thêm 1 tuổi. Cho nên, vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, sau khi thọ giới, đều có bổn phận tham gia An Cư Kiết Hạ, và đến khi kết thúc kỳ hạn đó, mỗi người đều được tăng thêm 1 tuổi, gọi là Hạ Lạp hay Pháp Lạp, v.v. Căn cứ vào tuổi Hạ ít nhiều mà lập ra Thượng Lạp (), Trung Lạp ()Hạ Lạp (), để phân định thứ tự lớn nhỏ, cao thấp. Vị cao tuổi nhất gọi là Nhất Lạp (), Cực Lạp () hay Lạp Mãn (滿). Trong Thích Thị Yếu Lãm (, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Hạ giải thích rõ rằng: “Hạ Lạp tức Thích Thị pháp tuế dã; phàm tự trưởng ấu, tất vấn, Hạ Lạp đa giả vi trưởng (, Hạ Lạp là tuổi pháp của con dòng họ Thích [tu sĩ]; phàm muốn biết thứ tự lớn nhỏ, phải hỏi, người có Hạ Lạp nhiều là lớn hơn).” Trong Quảng Thanh Lương Truyện (, Taishō Vol. 51, No. 2099) quyển Trung, phần Ngưu Vân Hòa Thượng Cầu Thông Minh () thứ 11, lại có đoạn: “Chí Đường Minh Hoàng Đế Khai Nguyên nhị thập tam niên, sư niên lục thập tam, Hạ Lạp tứ thập tứ, vô tật nhi chung (, đến năm thứ 23 [735] niên hiệu Khai Nguyên đời Minh Hoàng Đế nhà Đường, Hòa Thượng 63 tuổi, Hạ Lạp 44 năm, không tật bệnh gì mà ra đi).” Hay trong Tống Cao Tăng Truyện (, Taishō Vol. 50, No. 2061) quyển 16, phần Đường Cối Kê Khai Nguyên Tự Doãn Văn Truyện (), cũng có đoạn: “Dĩ Trung Hòa nhị niên Nhâm Dần lục nguyệt nhị thập cửu nhật, vi tật tác nhi trường thệ, hưởng linh thất thập hữu bát, Pháp Lạp ngũ thập ngũ (, vào ngày 29 tháng 6 năm thứ 2 [882, đời vua Hy Tông nhà Đường] niên hiệu Trung Hòa, sư nhuốm bệnh nhẹ rồi ra đi luôn, hưởng thọ 78 tuổi, Pháp Lạp 55 năm).”