Pháp Lãng

《法朗》 fǎ lǎng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Hōrō, 507-581: vị tăng sống dưới thời Nam Triều, người Quận Phái (), Từ Châu (, nay thuộc phía Đông Huyện Phái, Giang Tô), họ Chu (). Năm 21 tuổi, ông Xuất Gia, ban đầu theo Thiền Sư Bảo Chí () tu Thiền, rồi lại theo Tăng Thuyên () học về giáo học của Tam Luận và các kinh Hoa Nghiêm, Đại Phẩm, v.v. Vào tháng 11 năm thứ 2 (558) niên hiệu Vĩnh Định () đời vua Võ Đế nhà Trần, ông vâng sắc chỉ vào kinh trú tại Hưng Hoàng Tự (), tuyên giảng Hoa Nghiêm, Đại Phẩm, Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận, v.v.; chúng hội đến nghe thường lên đến ngàn người. Đến năm thứ 13 niên hiệu Thái Kiến () đời vua Tuyên Đế, ông Thị Tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Suốt đời ông tận lực hoằng dương Tam Luận Tông và xiển dương giáo nghĩa của Long Thọ (). Trước tác của ông có Trung Luận Huyền Nghĩa () 1 quyển, Tứ Tất Đàn Nghĩa () 1 quyển. Môn hạ của ông có 25 vị hiền triết, trong đó nổi tiếng nhất là Cát Tạng (), La Vân (), Pháp An (), Huệ Triết (), Pháp Trừng (), Đạo Trang (), Trí Củ (), Huệ Giác (), Chơn Cảm (), Minh Pháp Sư (), Khoáng Pháp Sư (), v.v.