Pháp Lâm

《法琳》 fǎ lín

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

(572-640) Cao Tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường, người Dĩnh xuyên (nay là huyện Hứa xương, Tỉnh Hà nam), họ Trần. Theo Tục Cao Tăng Truyện quyển 24 thì sư Xuất Gia từ nhỏ, sư học rộng, nghiên cứu cả Phật Học, Nho học, tư tưởng của Bách gia, đặc biệt sư tinh thông Tam Luận(Trung Luận, Bách LuậnThập Nhị Môn Luận). Niên hiệu Nhân thọ năm đầu (601) đời Tùy, sư đến Trường an học Đạo Thuật. Niên hiệu Nghĩa ninh năm đầu (617), sư đổi áo tăng sĩ mặc áo đạo sĩ và đến ở Đạo quán. Vì sư vốn thông hiểu tư tưởng Lão Trang, lời nói thanh cao kì lạ, nên Đạo Tục đều kính phục và theo sư rất đông. Niên hiệu Vũ đức năm đầu (618) đời vua Đường Cao Tổ, sư quay về với cửa Phật. Năm Vũ đức thứ 4 (621), sư trụ ở chùa Tế pháp tại Kinh đô, lúc đó, quan Thái sử Phó dịch tâu lên vua 11 điều kế sách xin bãi bỏ Phật Pháp, sư bèn dâng thư nói rõ sự sai trái của Phó dịch, đồng thời, soạn luận Phá tà (1 quyển) để luận nạn, Phó dịch đuối lí không đối đáp được, vua tạm gác việc bãi bỏ Phật Pháp. Sau, để chống lại luận điệu bài Phật của nhóm Lí trọng khanh, sư lại soạn luận Biện chính (8 quyển), bẻ gãy tà luận của họ. Sau đó, sư vâng sắc trụ trì chùa Long điền và giữ chức Bút Thụ trong trường Dịch Kinh. Mùa đông năm Trinh quán 13 (639), do lời dèm pha của đạo sĩ Tần Thế Anh, Sư Bị hạ ngục, sau, vua ra lệnh đày sư đến chùa Ích bộ tăng, nhưng khi đi đến chùa Bồ Đề ở Bách Lao Quan thì Sư Bị bệnh mà tịch, thọ 69 tuổi. Sư để lại các loại tác phẩm như thi phú, tán tụng, bi chí, kí truyện, Tam Giáo hệ phổ và giáo pháp Đại Thừa v.v... gồm hơn 30 quyển. [X. Quảng Hoằng Minh Tập Q. 11.; Đường Hộ Pháp Sa Môn Pháp Lâm biệt truyện Q. 3.; Đại Đường Nội Điển Lục Q. 5.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 8., 13; Cựu đường thư bản kỉ 1; Cựu đường thư liệt truyện 29].