Pháp Không

《法空》 fǎ kōng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Pháp Vô Ngã (Phạm: Dharmanairàtmya). Chỉ cho tự tính của các pháp là không, 1 trong Nhị Không, 1 trong Tam Không. Pháp Không có 2 nghĩa: Hết thảy pháp đều Vô Ngã; hết thảy pháp đều do Nhân Duyên giả hòa hợp. Luận Đại tì Bà Sa quyển 9 (Đại 27, 45 trung) ghi: Tôn giả Thế Hữu nói: Tôi không định nói các pháp đều không, mà định nói hết thảy các pháp đều Vô Ngã. Bởi vì, Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ chủ trương Pháp Thể là hằng có, cho nên không nói các pháp đều không, mà là quán tất cả pháp Vô Ngã để Đối Trị Ngã Kiến. Nhưng, phẩm Diệt pháp tâm trong luận Thành thực quyển 12 và luận Du Già sư địa quyển 93 thì cho rằng các pháp 5 uẩn không có tự tính thực tại bất kiến, cho nên là không. Còn Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 1 thì căn cứ vào 4 tông mà Phân Biệt Nghĩa Không như sau:
1. Tông Tì đàm lập tính: Chỉ nói về Sinh Không, chứ không nói đến Pháp Không.
2. Tông thành thực phá tính: Nói rõ cả Sinh KhôngPháp Không, cho rằng khổ, không, vô thường... tập thành các pháp, gọi là Pháp hòa hợp. Trong các pháp hòa hợp, Không chẳng có tính nhất định, cho nên là Pháp Không.
3. Tông Bát Nhã phá tướng: Cũng nói Sinh KhôngPháp Không, cho rằng không cần phải đợi đến khi khổ, không, vô thường... lìa tan hoại diệt mới là không mà các pháp giả hợp ngay trước mắt chính là không.
4. Tông Hiển thực: Cũng nói Sinh KhôngPháp Không, chia làm 2 môn: a) Y trì môn: Pháp vọng tưởng vốn không, gọi là Chúng Sinh không; chỗ nương Chân Thật vắng lặng, gọi là Pháp Không. b) Duyên Khởi môn: Thể Chân Như Tịch Diệt, gọi là Pháp Không; Duyên dụng vắng lặng, gọi là Chúng Sinh không. Trên đây, cái không của tông Phá tính là Tích không; cái không của tông Phá tướng là Thể không; còn về tông Hiển thực thì Sinh KhôngPháp Không của môn Y trì là Tam tính tam vô tính, Pháp KhôngSinh Không của môn Duyên KhởiThể Dụng của Chân Như. [X. luận Đại trí độ Q. 6., 31; luận Du Già sư địa Q. 90.; luận Hiển dương Thánh Giáo Q. 16.]. (xt. Nhị Không, Không, Vô Ngã).