Pháp Hoa Mạn Đồ La

《法華曼荼羅》 fǎ huá màn tú luó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Pháp hoa kinh Mạn Đồ La, Pháp hoa biến tướng. Bức Mạn Đồ La khắc hoặc vẽ về những cảnh tượng được miêu tả trong kinh Pháp hoa.Tại Trung Quốc, từ xưa, Tín Ngưỡng kinh Pháp hoa đã rất thịnh hành, cho nên có không ít những bức tranh vẽ hoặc chạm trổ về những cảnh tượng được miêu tả trong kinh Pháp hoa, như trong các hang động Vân cương và Long Môn ở huyện Đại Đồng, Tỉnh Hà nam, có tháp Đa bảo được khắc vào thời đại Lục Triều, trong tháp có đức Phật Thích Ca và đức Phật Đa bảo cùng ngồi; trong động Thiên Phật ở huyện Đôn hoàng tỉnh Cam túc cũng có những bức bích họa Pháp hoa biến tướng được vẽ vào thời đại Đường, Tống. Trong đó, bức bích họa ở hang thứ 8 trong động Thiên Phật tại Đôn hoàng là tranh biến tướng của phẩm Tựa kinh Pháp hoa; rồi đến các bức bích họa trong các hang 74, 81, 102, 117, 120F, 168 v.v... đều là tranh vẽ biến tướng của các phẩm Pháp hoa. Trong các hang 97, 111, 135C... thì có các bức tranh vẽ và điêu khắc tháp Đa bảo. Trong Mật giáo, khi tu Pháp Kinh Pháp hoa thì dùng Mạn Đồ La Pháp hoa, trong đó, vẽ đức Phật Thích Ca và Phật Đa bảo làm Bản Tôn. Theo Quán trí nghi quĩ thì Mạn Đồ La Pháp hoa có 3 lớp: Lớp trong cùng (Nội Viện) vẽ hoa sen 8 cánh, trên đài sen có vẽ ngôi tháp, trong tháp vẽ đức Phật Thích Ca và đức Phật Đa bảo cùng ngồi 1 tòa, trên mỗi cánh sen trong 8 cánh an trí 1 vị Bồ Tát, ở mỗi góc trong 4 góc của lớp trong (Nội Viện)cũng đều an trí 1 vị Bồ Tát. Ở lớp thứ 2 an trí 12 vị Bồ Tát và 4 Bồ Tát Cúng dường. Lớp thứ 3 vẽ Tứ Thiên Vương, Long Vương v.v... Ở 4 góc của Mạn Đồ La vẽ 4 vị Đại Minh Vương. [X. Pháp hoa kinh truyện kí Q. 6.; Chư A Xà Lê Chân Ngôn Mật giáo bộ loại vật lục Q.hạ; Les Grottes du Touen Houang. 1, 3, 4, 6, par P. Pelliot].