Pháp Hoa Kinh An Lạc Hành Nghĩa
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi An Lạc hạnh nghĩa, Pháp hoa An Lạc hạnh. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ tư (515- 577) soạn vào đời Trần thuộc Nam triều, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Sách này y cứ vào hạnh Tam Muội được chỉ bày trong phẩm An Lạc hạnh của kinh Pháp hoa mà nói rõ về việc thực hành Pháp Hoa Tam Muội gồm có 2 loại: Hữu tướng hạnh và Vô Tướng hạnh.
1. Hữu tướng hạnh: Dựa vào phẩm Phổ Hiền Khuyến Phát trong kinh Pháp hoa mà nói về hạnh Quán Tưởng Phổ Hiền, nhấn mạnh việc Tinh Tiến đọc tụng kinh Pháp hoa.2. Vô Tướng hạnh: Chuyên Tu thiền định, thể nhập Tam Muội trong hết thảy các pháp tâm tướng vắng lặng, rốt ráo chẳng sinh. Ngài Tuệ tư suốt đời thực hành Nghĩa Không của Bát Nhã mà đạt được ý chỉ sâu xa của Phật Pháp. Vì muốn cho mọi người tu hành đều được sự Lợi Ích của Chính Pháp, nên ngài đem sự thể nghiệm của bản thân trình bày thành sách này. Kết quả không những phát huy tu thiền và Niệm Phật, mà còn là nhân tố khai sinh ra giáo quán Thiên thai. Đối với lịch sử giáo lí của Phật giáo Trung Quốc, tác phẩm này đã ảnh hưởng rất lớn.
1. Hữu tướng hạnh: Dựa vào phẩm Phổ Hiền Khuyến Phát trong kinh Pháp hoa mà nói về hạnh Quán Tưởng Phổ Hiền, nhấn mạnh việc Tinh Tiến đọc tụng kinh Pháp hoa.2. Vô Tướng hạnh: Chuyên Tu thiền định, thể nhập Tam Muội trong hết thảy các pháp tâm tướng vắng lặng, rốt ráo chẳng sinh. Ngài Tuệ tư suốt đời thực hành Nghĩa Không của Bát Nhã mà đạt được ý chỉ sâu xa của Phật Pháp. Vì muốn cho mọi người tu hành đều được sự Lợi Ích của Chính Pháp, nên ngài đem sự thể nghiệm của bản thân trình bày thành sách này. Kết quả không những phát huy tu thiền và Niệm Phật, mà còn là nhân tố khai sinh ra giáo quán Thiên thai. Đối với lịch sử giáo lí của Phật giáo Trung Quốc, tác phẩm này đã ảnh hưởng rất lớn.