Pháp Cú Kinh

《法句經》 fǎ jù jīng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Pàli: Dhamma-pada. Cũng gọi Pháp cú tập kinh, Pháp cú tập, Pháp cú lục, Đàm bát kinh, Đàm bát kệ. Kinh, 2 quyển, 39 phẩm, 752 bài tụng (nay có 758 bài tụng), do ngài Pháp cứu, người Ấn Độ soạn, ngài Duy kì nan, người nước Ngô dịch vào thời Tam Quốc (có thuyết cho rằng do các ngài Chi Khiêm và Trúc tướng diệm dịch vào năm 224), được thu vào Đại chính tạng tập 4. Nội dung thu chép những bài kệ do đức Phật nói trong các kinh mà biên tập thành. Nguyên bản của kinh này có nhiều loại: Loại 1.000 bài tụng, 900 bài tụng, 700 bài tụng, 500 bài tụng v.v... Năm Hòa vũ thứ 3 (224) đời vua Tôn Quyền nước Ngô, ngài Duy kì nan đem về 26 phẩm, 500 bài tụng, sau lại thêm vào 13 phẩm, thành 39 phẩm, 752 bài tụng. Kinh này hiện còn 4 bản khác là: -Kinh Pháp cú (Pàli: Dhamma-pada). -Phẩm Ưu đà na (Phạm:Udàna-varga, cũng gọi Ô đà nam phẩm). -Ched-du brjod-pa#i tshoms (bản dịch Tây tạng). -Kinh Pháp tập yếu tụng, 4 quyển, do ngài Thiên tức tai dịch vào đời Tống (thuộc hệ tiếng Phạm, được thu vào Đại chính tạng tập 4). Trong các bản trên, bản Pàli gồm 26 phẩm, 423 bài tụng (1 bài trùng lắp), rất giống với bản do ngài Duy kì nan thỉnh về Trung Quốc. Về kinh Pháp cú viết bằng tiếng Phạm, theo Câu xá luận quang kí quyển 1, thì Ấn Độ lưu hành bản Ưu đà nam do ngài Pháp cứu sưu tập. Năm 1892, ông F.Grenard đã phát hiện 1 phần bản tiếng Phạm ở vùng Hòa điền tại Tân cương viết trên vỏ cây hoa bằng chữ Khư lô sắt tra. Theo sự nghiên cứu của học giả người Pháp là ông É.Senart, thì sách này có thể đã được viết từ thế kỉ II trở về trước, được xem là Bản Kinh Phật viết tay xưa nhất hiện còn. Về sau, những đoạn kinh Phật bằng tiếng Phạm cũng liên tục được tìm thấy ở các vùng Khố xa, Đôn hoàng... Những đoạn kinh này được ông N.P.Chakravarti biên tập thành sách, đề là L’Udanavarga Sanskrit (Phẩm Ưu đà na tiếng Phạm) ấn hành 21 phẩm trước vào năm 1930. Bản dịch Tây tạng và kinh Pháp tập yếu tụng giống nhau, đều có 33 phẩm. Hai bản này chỉ có hơn 200 bài kệ giống với bảnPàli mà thôi. Ngoài ra, vào thời Tây Tấn, ngài Pháp Cự và Pháp lập cùng Dịch Kinh Pháp cú Thí Dụ 4 quyển (thuộc hệ Pàli, được thu vào Đại chính tạng tập 4). Kinh này cũng gọi: Pháp dụ kinh, Pháp cú dụ kinh, Pháp cú bản mạt kinh, cũng chia làm 39 phẩm. Tích truyện Thí Dụ của mỗi phẩm nêu ra 1 số kệ tụng trong kinh này để giải thích Nhân Duyên của tích truyện, tất cả có 68 loại Thí Dụ. Ngài Phật Âm (Pàli: Buddha-ghosa) soạn Pháp Cú Kinh chú (Pàli: Dhammapadaỉỉhakathà) để giải Thích Nghĩa của 422 bài tụng trong kinh Pháp cú bằng tiếngPàli, đồng thời nói rõ Nhân Duyên của kinh này, tổng cộng có 299 loại Thí Dụ. Còn Ưu đà na phẩm chú giải (Tạng: Ched-du-brjod-pa#i tshoms-kyi rnampar#grel-pa) được thu vào A Tì Đạt Ma bộ (Tạng: Míon-pa) trong Đan Châu Nhĩ (Tạng: Bstan-#gyur) của Đại Tạng Kinh Tây tạng và bản Hán Dịch Kinh Xuất diệu 30 quyển (thuộc hệ tiếng Phạm, được thu vào Đại chính tạng tập 4) đều là sách giải thích về Nhân Duyên Thí Dụ của phẩm Ưu đà na. Kinh Pháp cú là tác phẩm phản ánh sự thể nghiệm sâu sắc, đầy đủ về đời sống thực tiễn của con người, là cuốn sách Nhập Môn hay nhất của Phật giáo. Năm 1855, nhà học giả Đan mạch là ông
V. Fausbôll đã xuất bản nguyên vănPàli và phụ thêm bản dịch. Đây là lần đầu tiên Phật giáo được giới thiệu với phương Tây, sau đó, được dịch sang các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức. Rồi đến ông W. Rockhill dịch phẩm Ưu đà na tiếng Tây tạng sang tiếng Anh, ông Herman Beckh thì ấn hành nguyên văn Tây tạng, S.Beal Dịch Kinh Pháp cú Thí Dụ ra Anh văn. Tại Nhật bản thì năm 1915, phòng Nghiên cứu Triết học Ấn Độ thuộc Văn khoa của trường Đại học Đế quốc ở Đông kinh ấn hành kinh Pháp cú đối chiếuPàli-Hán. [X. Thiện kiến luật tì Bà Sa Q. 1.; luận Đại tì Bà Sa Q. 1.; Xuất Tam Tạng kí tập Q. 7.; truyện Duy kì nan trong Lương Cao Tăng Truyện Q. 1., Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 2.; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q. 9., 10; A History ofPàli Literature by B.C. Law; Le Manuscrit kharowỉhì du Dhammapada (Journal asiatique 1898) par E. Senart; Bemerkungen zu dem Kharowỉhì- Manuskript des Dhammapada, par H. Lüders; Zum Manuskript Dutreme de Rhins (Zeitsch. Morgenl. Gesell; LX.
3. 1906)
par O.Franke]
.