Pháp
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Dharma Pàli: Dhamma. Hán âm: Đạt Ma, Đà ma, Đàm Ma, Đàm vô, Đàm.
I. Pháp. Trong Kinh Điển Phật giáo, danh Từ Pháp được sử dụng trong rất nhiều trường hợp và ý nghĩa cũng không đồng nhất. Nói 1 cách tổng quát thì Pháp có 2 định nghĩa là nhậm trì tự tính, quĩ sinh vật giải.1. Nhậm trì tự tính: Tất cả sự vật, Hiện Tượng luôn giữ gìn bản tính riêng của chúng, không thay đổi.
2. Quĩ sinh vật giải: Tất cả sự vật đều duy trì tự tính riêng biệt của chúng, như những khuôn mẫu khiến người ta dựa vào đó làm căn cứ mà hiểu 1 Hiện Tượng nhất định. Nói theo nghĩa Nhậm trì tự tính thì Pháp là chỉ cho tất cả cái tồn tại có đầy đủ tự tính, Bản Chất riêng biệt; nói theo nghĩa Quĩ sinh vật giải thì Pháp chỉ cho những tiêu chuẩn của sự Nhận Thức, như qui phạm, pháp tắc, Đạo Lí, giáo lí, giáo thuyết, Chân Lí, thiện hành v.v... Tóm lại, Pháp chỉ chung cho hết thảy mọi sự vật, mọi Hiện Tượng–cụ thể hay trừu tượng–có tự tính, Bản Chất riêng biệt làm căn cứ, khuôn mẫu khiến người ta nhìn vào là có thể Nhận Thức và lí giải được. [X. kinh Tạp a hàm Q. 31.; kinh Chư Pháp bản trong Trung a hàm Q. 28.; phẩm Cú Nghĩa trong kinh Đại phẩm Bát Nhã Q. 4.; phẩm Sát Na trong kinh Đại Thừa lăng già Q. 5.; kinh Đại bảo tích Q. 52.; luận Đại trí độ Q. 48.].
II. Pháp. Chỉ cho cảnh Sở Duyên(đối tượng Phân Biệt) của thức thứ 6(ý thức), cũng gọi Pháp xứ (Phạm: Dharmàyatana) hoặc Pháp Giới (Phạm: Dharma-dhàtu). [X. luận Đại tì Bà Sa Q. 73.; luận Câu xá Q. 1.; phẩm Xứ trong luận Pháp Uẩn túc Q. 10.].
III. Pháp. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Hàm ý tính chất, thuộc tính. Trong Nhân Minh, danh từ sau (Hậu Trần) của Tông (mệnh đề) gọi là Pháp (thuộc tính); danh từ trước(Tiền Trần)của Tông gọi là Hữu Pháp (có thuộc tính). Như lập Tông: Âm thanh là vô thường, thì vô thường (Pháp) là thuộc tính của âm thanh (Hữu Pháp). [X. Nhân Minh Luận Sớ Minh Đăng Sao Q. 2., phần đầu; Nhân Minh Luận sớ thụy nguyên kí Q. 2.]. (xt. Tà Chính, Thể).
I. Pháp. Trong Kinh Điển Phật giáo, danh Từ Pháp được sử dụng trong rất nhiều trường hợp và ý nghĩa cũng không đồng nhất. Nói 1 cách tổng quát thì Pháp có 2 định nghĩa là nhậm trì tự tính, quĩ sinh vật giải.1. Nhậm trì tự tính: Tất cả sự vật, Hiện Tượng luôn giữ gìn bản tính riêng của chúng, không thay đổi.
2. Quĩ sinh vật giải: Tất cả sự vật đều duy trì tự tính riêng biệt của chúng, như những khuôn mẫu khiến người ta dựa vào đó làm căn cứ mà hiểu 1 Hiện Tượng nhất định. Nói theo nghĩa Nhậm trì tự tính thì Pháp là chỉ cho tất cả cái tồn tại có đầy đủ tự tính, Bản Chất riêng biệt; nói theo nghĩa Quĩ sinh vật giải thì Pháp chỉ cho những tiêu chuẩn của sự Nhận Thức, như qui phạm, pháp tắc, Đạo Lí, giáo lí, giáo thuyết, Chân Lí, thiện hành v.v... Tóm lại, Pháp chỉ chung cho hết thảy mọi sự vật, mọi Hiện Tượng–cụ thể hay trừu tượng–có tự tính, Bản Chất riêng biệt làm căn cứ, khuôn mẫu khiến người ta nhìn vào là có thể Nhận Thức và lí giải được. [X. kinh Tạp a hàm Q. 31.; kinh Chư Pháp bản trong Trung a hàm Q. 28.; phẩm Cú Nghĩa trong kinh Đại phẩm Bát Nhã Q. 4.; phẩm Sát Na trong kinh Đại Thừa lăng già Q. 5.; kinh Đại bảo tích Q. 52.; luận Đại trí độ Q. 48.].
II. Pháp. Chỉ cho cảnh Sở Duyên(đối tượng Phân Biệt) của thức thứ 6(ý thức), cũng gọi Pháp xứ (Phạm: Dharmàyatana) hoặc Pháp Giới (Phạm: Dharma-dhàtu). [X. luận Đại tì Bà Sa Q. 73.; luận Câu xá Q. 1.; phẩm Xứ trong luận Pháp Uẩn túc Q. 10.].
III. Pháp. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Hàm ý tính chất, thuộc tính. Trong Nhân Minh, danh từ sau (Hậu Trần) của Tông (mệnh đề) gọi là Pháp (thuộc tính); danh từ trước(Tiền Trần)của Tông gọi là Hữu Pháp (có thuộc tính). Như lập Tông: Âm thanh là vô thường, thì vô thường (Pháp) là thuộc tính của âm thanh (Hữu Pháp). [X. Nhân Minh Luận Sớ Minh Đăng Sao Q. 2., phần đầu; Nhân Minh Luận sớ thụy nguyên kí Q. 2.]. (xt. Tà Chính, Thể).