Phân Biệt

《分別》 fēn bié

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm:Vikalpa. Cũng gọi Tư duy, Kế đạc. Chỉ cho sự suy lường, tính toán, so đo... Luận Câu xá quyển 2 nêu ra 3 thứ Phân Biệt:
1. Tự tính Phân Biệt: Tác Dụng trực giác lấy Tâm Sở Tầm hoặc Tứ làm thể, trực tiếp Nhận Thức đối cảnh.
2. Kế đạc Phân Biệt: Tác Dụng phán đoán suy lí, tương ứng với ý thức, lấy Tâm Sở Tuệ làm thể.
3. Tùy niệm Phân Biệt: Tác Dụng ghi nhớ, truy tưởng, tương ứng với ý thức, lấy Tâm Sở Niệm làm thể, có khả năng nhớ rõ việc Quá Khứ. Trong 6 thức, chỉ có ý thức là đầy đủ cả 3 loại Phân Biệt nói trên, cho nên gọi là Hữu Phân Biệt (Phạm: Savikalpa); 5 thức trước thì chỉ có Tự tính Phân Biệt chứ không có 2 Phân Biệt kia, cho nên gọi là Vô Phân Biệt (Phạm: Avikalpa). Luận A Tì Đạt Ma tạp tập quyển 2 cho rằng 3 Phân BiệtTác Dụng của ý thức và bảo Tự tính Phân Biệt thuộc hiện tại, Tùy niệm Phân Biệt thuộc Quá Khứ, còn Kế đạc Phân Biệt thì chung cho cả Quá Khứ và vị lai. Nhưng luận Nhiếp Đại Thừa thì cho rằng sự Phân Biệt của Phàm Phu là do Mê Vọng sinh ra, hoàn toàn không thể chứng ngộ được lí Chân Như 1 cách như thực, do đó, sự Phân Biệt của Phàm Phu chỉ là sự Phân Biệt Hư Vọng (gọi tắt: Vọng Phân Biệt). Nếu muốn chứng ngộ được lí Chân Như, thì phải xả bỏ trí Phân Biệt của Phàm Phu, mà nương vào trí vô Phân Biệt mới được. Cũng tức là Bồ Tát Sơ địa khi vào Kiến Đạo, duyên với Chân Như của tất cả pháp, vượt lên trên sự đối lập giữa năng tri vàsở tri, mới có thể chứng được trí Bình ĐẳngPhân Biệt. Trí vô Phân Biệt này được chia làm 3 giai đoạn: Gia hạnh (giai đoạn chuẩn bị), Căn bản và Hậu đắc, theo thứ tự gọi là trí Gia hạnh, trí Căn bản và trí Hậu đắc. [X. luận Thành Duy Thức Q. 7.; luận Đại tì Bà Sa Q. 42.; Nhiếp Đại Thừa Luận bản Q.trung; luận Hiển dương Thánh Giáo Q. 16.; luận Du Già sư địa Q. 53.].
II. Phân Biệt. Phạm: Vibhaíga, Vibhajya. Chỉ cho sự khu biệt, chia loại, phân tích giáo pháp để nghiên cứu, khảo sát, theo nhiều phương hướng và trên nhiều lập trường.