Phan
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: patākā, 旛、: âm dịch là Ba Đa Ca (波哆迦); hoặc có Phạn ngữ là ketu, âm dịch là Kế Đô (計都); là từ gọi chung của các cờ phan, là vật Trang Nghiêm để cúng dường chư Phật, Bồ Tát; thường đi chung với tràng phan (幢幡). Xưa kia tại Ấn Độ, phan có nhiều sắc thái khác nhau; nhưng tại Trung Quốc, dưới thời nhà Tùy (隋, 581-618), phan đã được sử dụng rất thịnh hành. Trong Tuyển Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經, Taishō Vol. 4, No. 200) quyển 7, phần Bố Thị Phật Phan Duyên (布施佛幡緣); Phật Thuyết Quán Đảnh Kinh (佛說灌頂經, Taishō Vol. 21, No. 1331) quyển 11, v.v., đều có đề cập đến Công Đức tạp lập phan như hàng phục được ma, tăng tuổi thọ, xa lìa nạn khổ, v.v. Về chủng loại, phan có rất nhiều loại khác nhau, tỷ dụ như Quán Đảnh Phan (灌頂旛), Mật Giáo dùng loại này để chạm lên đầu, với ý nghĩa trước hết thọ phép Quán Đảnh của Luân Vương, sau mới thọ phép Quán Đảnh quả vị Phật; Tục Mạng Thần Phan (續命神旛), hay Thọ Mạng Phan (壽命旛), là thần phan cầu thêm tuổi thọ và bảo vệ tánh mạng; Tiến Vong Phan (薦亡旛), hay Mạng Quá Phan (命過旛), có thể khiến cho người chết có được phước đức nơi Thân Trung Ấm để Vãng Sanh; Tín Phan (信旛) là loại phan dùng để truyền tín hiệu; Đình Phan (庭旛) là loại phan được sử dụng trong các nghi thức cầu mưa, v.v., tại đình miếu. Ngoài ra, tùy theo Hình Tượng trên lá phan mà có 5 loại khác nhau như: Sư Tử Phan (獅子旛), Mạc Yết La Phan (莫羯羅旛), Long Phan (龍旛), Yết Lộ Trà Phan (揭路荼旛), Ngưu Vương Phan (牛王旛). Về màu sắc, phan có 5 màu là xanh, vàng, đỏ, trắng và đen. Về chất liệu, cũng có nhiều loại phan khác nhau như loại bằng tơ lụa, vải, kim thuộc, ngọc thạch, v.v. Trong bài thơ Tây Tái Sơn Hoài Cổ (西塞山懷古) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Thiên tầm thiết tỏa trầm giang để, nhất phiến hàng phan xuất thạch đầu (千尋鐵鎖沉江底、一片降旛出石頭, ngàn thước vòng sắt chìm sông đáy, một mảnh hàng phan lộ đá đầu).”