Phạm Vũ

《梵宇》 fàn yǔ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: hay Phạm Cung (), Phạm Sát (), nghĩa là chùa, tự viện Phật Giáo. Phạm hay Phạn (Sanskrit: brahman, ) nghĩa là Tịch Tĩnh, thanh tịnh, ly dục; cho nên nơi Tịch Tĩnh dành cho các vị Xuất Gia tu hành thanh tịnh, ly dục, được gọi là Phạm Vũ, Phạm Cung hay Phạm Sát. Tống Chi Vấn (, khoảng 656-712) nhà Đường có làm bài Đăng Thiền Định Tự Các (, có tên khác là Đăng Tổng Trì Tự Các []) rằng: “Phạm Vũ xuất tam thiên, đăng lâm vọng bát xuyên, khai khâm tọa tiêu hán, huy thủ phất vân yên, hàm cốc thanh sơn ngoại, hỗn trì lạc nhật biên, đông kinh dương liễu mạch, thiếu biệt dĩ kinh niên (, chùa cổ vút trời xanh, lên lầu ngắm núi sông, vén áo ngồi trời rộng, khua tay vẫy mây vờn, khe thẳm núi xanh vắng, hồ trăng trời lặn buông, kinh đô dương liễu rũ, xa cách đã mấy năm).” Hay như trong Pháp Bảo Đàn Kinh (), Phẩm Cơ Duyên () có đoạn: “Thời Bảo Lâm Cổ Tự, tự tùy mạt binh hỏa, dĩ phế, toại ư cố cơ trùng kiến Phạm Vũ (, ngôi chùa cổ Bảo Lâm đương thời, bị nạn binh hỏa cháy rụi từ cuối thời nhà Tùy, nay đã hoang phế, bèn trùng kiến ngôi chùa mới trên nền cũ).” Trong bài Vịnh Hà Trung Tự Thi () của cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự () do Tổ Thạch Liêm (, 1633-1702, tức Thích Đại Sán []) sáng tác lại có đoạn: “Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm Cung, chung thanh điều đệ mãn hà phong (滿, nép bóng chùa xưa liễu xanh non, tiếng chuông xa vẳng theo gió sông)”; hay tả cảnh Chùa Linh Mụ () ở cố đô Huế như “Phạm vương cung khuyết Nguyễn vương khai, ngọc điện châu môn sanh lục đài (殿, chùa xưa cung gác chúa Nguyễn khai, điện ngọc lầu son phủ rêu dài)”. Ngay tại cổng Sơn Môn của Đài Đồng Tự (), Phố Tân Trúc (), Đài Loan () có hai câu đối như sau: “Sơn Khai Giác lộ Liên Hoa xán, môn ánh kinh lâu Phạm Vũ tân (, núi khai nẻo Giác Hoa sen rực, cửa rạng lầu kinh mới cảnh chùa).” Trong Tây Sương Ký (西) cũng có câu rằng: “Sinh rằng quán khách lạ lùng, trộm nghe đây lối Phạm Cung cảnh mầu.”