Phạm Kỳ

《梵琦》 fàn qí

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Thiền Sư Trung Quốc sống vào đời Nguyên, người Tượng sơn, Minh Châu (Chiết giang), họ Chu, tự Sở Thạch, tiểu tự Đàm Diệu.Sư Xuất Gia năm lên 9 tuổi, 16 tuổi Thụ Giới Cụ Túc, năm 22 tuổi làm Thị Giả ở chùa Đạo Tràng và trông coi Tạng kinh. Một hôm, sư xem kinh Thủ lăng nghiêm có chỗ tỉnh ngộ, nhưng không hiểu được ý trong văn kinh và vẫn còn vướng mắc nơi Danh Tướng. Sau, sư đến Kính Sơn Tham Học ngài Nguyên tẩu Hành Đoan, lúc đầu trong lòng vẫn còn nhiều mối ngờ. Bấy giờ, vua Anh tông ban sắc triệu người viết giỏi, sư được chọn vào cung. Một hôm, sư nghe tiếng trống trên lầu phía tây thành, sư hoát nhiên triệt ngộ, được nối pháp ngài Nguyên tẩu, lúc đó sư 29 tuổi. Về sau, sư lần lượt trụ ở các chùa Phúc trăn ở Hải diêm, chùa Vĩnh tộ ở Thiên ninh, chùa Báo các ở núi Phượng sơn tại Hàng châu, chùa Bản Giác ở Gia hưng... Năm Chí chính thứ 7 (1347), sư được vua ban hiệu Phật Nhật Phổ Chiếu Tuệ Biện Thiền Sư. Đầu năm Hồng vũ đời Minh, sư được vua ban sắc Thuyết Pháp ở Tưởng sơn (tức núi Chung Sơn ở phía đông bắc huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô). Năm Hồng vũ thứ 3 (1370)Thị Tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Sư để lại các trứ tác: Sở Thạch Phạm Kì Ngữ Lục 20 quyển, Tây trai Tịnh Độ thi 3 quyển, Thướng sinh kệ, Bắc du Phượng sơn tây trai 3 tập, Họa Thiên thai tam thánh thi. [X. Sở Thạch Phạm Kì Thiền Sư Ngữ Lục tự; Phật Nhật phổ chiếu tuệ kiện Thiền Sư tháp minh; Thích Thị Kê Cổ Lược tục tập Q. 2.; Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện Q. 10.; Tục đăng chính thống Q. 15.].