Oánh Sơn Thiệu Cẩn

《瑩山紹瑾》 yíng shān shào jǐn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Keizan Shōkin, 1268-1325: vị Thái Tổ của Tào Động Tông Nhật Bản, cháu đời thứ 4 của Cao Tổ Đạo Nguyên (), hiệu là Oánh Sơn (). Ông sinh ra vào ngày mồng 8 tháng 10 năm 1268 nơi Quan Âm Đường ở vùng Việt Tiền (, Echizen, thuộc Fukui-ken []), tên lúc nhỏ là Hạnh Sanh (). Mẹ ông được cảm hóa nhờ đức tin vào Quan Âm Bồ Tát. Năm lên 8 tuổi, ông lên Vĩnh Bình Tự (, Eihei-ji)Việt Tiền, tham vấn Triệt Thông Nghĩa Giới (). Đến năm 13 tuổi, ông Đắc Độ thọ giới với Cô Vân Hoài Trang (), vị Tổ đời thứ 2 của chùa này. Vào ngày 24 tháng 8 năm 1280, khi Hoài Trang qua đời thì ông theo hầu Nghĩa Giới và chuyên tâm tu hành tọa Thiền. Đến năm lên 18 tuổi, ông Phát Nguyện đi Hành Cước khắp các tiểu quốc, và đến tham vấn Tịch Viên ()Bảo Khánh Tự (). Tiếp theo, ông lên kinh đô Kyoto, học về Thiền Phong mang tính Mật Giáo của Phái Thánh Nhất () thuộc Lâm Tế Tông với Đông Sơn Trạm Chiếu (), Bạch Vân Huệ Kiểu (); thêm vào đó ông còn tiếp xúc với giáo học Thiên Thai trên Tỷ Duệ Sơn. Kế đến ông đến Tham Học với Vô Bổn Giác Tâm () ở Hưng Quốc Tự () thuộc vùng Kỷ Y (, Kii, thuộc Wakayama-ken [] ngày nay), và sau đó ông lại đến tham yết Tịch Viên ở Bảo Khánh Tự lần nữa. Năm lên 22 tuổi, ông phản tỉnh khi đọc được câu kệ trong Phẩm Pháp Sư Công Đức () của Kinh Pháp Hoa rằng “phụ mẫu sở sanh nhãn tất kiến tam thiên giới (, con mắt do cha mẹ mình sanh ra tất thấy được ba ngàn Thế Giới)”, rồi đến năm 25 tuổi thì ông phát Thệ Nguyện rộng lớn. Năm lên 28 tuổi, ông được cung thỉnh đến làm Tổ Khai Sơn ngôi Thành Mãn Tự (滿) của dòng họ Phú Kiên () ở vùng A Ba (, Awa, thuộc Tokushima-ken []). Năm sau, lúc 29 tuổi, ông lên Vĩnh Bình Tự, sao chép tập Phật Tổ Chánh Truyền Bồ Tát Giới Tác Pháp (), rồi được vị trú trì chùa này là Nghĩa Diễn () trao truyền Bồ Tát Giới cho. Cũng vào mùa đông năm này, lần đầu tiên ông Khai Đường Thuyết Pháp ở Thành Mãn Tự, và truyền trao Giới Pháp cho nhóm 5 người Nhãn Khả Thiết Kính (). Sau đó, ông đến tham yết Hàn Nham Nghĩa Duẫn ()Đại Từ Tự (, Daiji-ji) thuộc vùng Phì Hậu (, Higo, thuộc Kumamoto-ken []), rồi đến kết thảo am ở gần nơi Đông Cung Ngự Sở tại Kyoto, và tương truyền tại đây ông hội ngộ với Nga Sơn Thiệu Thạc (). Cho đến năm 31 tuổi, ông khai mở Giới Pháp ở Thành Mãn Tự, độ cho hơn 70 người, và tận lực trong việc giáo hóa dân chúng. Đến năm 32 tuổi, ông kế thừa dòng pháp của Nghĩa Giới, được trao Truyền Pháp y, làm vị Thủ Tọa đầu tiên của Đại Thừa Tự, và đến năm 35 tuổi thì làm vị Tổ đời thứ 2 của chùa này. Từ ngày 11 tháng giêng năm 1300, ông bắt đầu khai thị bộ Phật Quang Lục (). Rồi vào tháng 8 cũng như tháng 11 năm 1306, trải qua hai lần ông được Nghĩa Giới trao truyền cho Bí Pháp. Cho đến năm 1311, ông chuyên tâm vào việc bổ sung quy cũ ở Đại Thừa Tự, tiếp độ đồ chúng, và trước tác Tọa Thiền Dụng Tâm Ký (), Tam Căn Tọa Thiền Thuyết (), Tín Tâm Minh Niêm Đề (), v.v. Hơn nữa, ông còn khai sáng Tịnh Trú Tự () ở vùng Gia Hạ (, Kaga). Rồi vào năm 1317, ông còn sáng lập ra Vĩnh Quang Tự () ở Động Cốc Sơn (). Sau đó thể theo lời thỉnh cầu của vị quan Địa Đầu vùng Vũ Trách (, Hakui) ở Năng Đăng (, Noto), ông đến Khai Sơn Quang Hiếu Tự (). Kế đến ông lại khai sáng thêm Phóng Sanh Tự () ở vùng Năng Đăng này. Chính trong khoảng thời gian này, thanh danh của Oánh Sơn rất nổi bật, nên được Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng () ban sắc phong cho. Năm sau, nhờ sự cúng dường của Đàn Na Thí Chủ, ông xây dựng Điện Phật, rồi Khai Sơn Đường, Pháp Đường, và chỉnh trang toàn bộ ngôi Già Lam Vĩnh Quang Tự. Từ đó, vào năm đầu niên hiệu Nguyên Hanh (), ông Cảm Ứng điềm báo mộng Khai Đường Tổng Trì Tự (, Sōji-ji), rồi thể theo lời thỉnh cầu của vị Viện Chủ Chư Nhạc Tự () thuộc Chơn Ngôn Luật Tông (có thuyết cho là Thiên Thai Tông) ở Quận Phụng Khí Chí (), Năng Đăng, ông đến vùng đất này, và vào ngày mồng 8 tháng 6 cùng năm, ông khai sáng ra Tổng Trì Tự tại đây. Đến ngày 22 tháng 7 thì được cúng dường đất đai của chùa, rồi đến ngày 14 tháng 9 thì nhận được sắc phong chùa, và vào ngày 28 tháng 8 năm sau thì được công nhận là ngôi chùa của Tào Động Tông. Đây là ngôi chùa trung tâm thứ hai của phái Tào Động Nhật Bản. Sau đó, chùa được dòng họ Trường Cốc Bộ () chuyên tâm ủng hộ. Vào ngày mòng 8 tháng 8 năm 1325, ông cử Minh Phong Tố Triết () làm chức Tăng Lục 8 ngôi chùa gồm Vĩnh Quang Tự (), Viên Thông Viện (), Quang Hiếu Tự (), Tổng Trì Tự (), Bảo Ứng Tự (), Phóng Sanh Tự (), Đại Thừa Tự (); rồi nhường ngôi Tọa Chủ cho vị này và lui về ẩn cư. Đến nữa đêm ngày 15 tháng 8, ông Thuyết Pháp lần cuối cùng, để lại di kệ và Thị Tịch, hưởng thọ 58 tuổi đời (có thuyết cho là 62 tuổi). Xá Lợi của ông được phân phối ra tôn trí tại 4 ngôi chùa Đại Thừa Tự, Vĩnh Quang Tự, Tịnh Trú Tự và Tổng Trì Tự. Môn nhân Đắc Độ của ông ngoài Minh Phong Tố Triết (), Vô Nhai Trí Hồng (), Nga Sơn Thiệu Thạc (), Hồ Am Chí Giản (), còn có Cô Phong Giác Minh (), Trân Sơn Nguyên Chiếu () là những nhân vật xuất chúng. Đệ Tử Ni của ông có Mặc Phổ Tổ Nhẫn (), Nhẫn Giới (), Kim Đăng Huệ Cầu (), Minh Chiếu (), v.v. Hậu Thôn Thượng Thiên Hoàng () ban tặng cho ông Thụy Hiệu là Phật Từ Thiền Sư (); Hậu Đào Viên Thiên Hoàng () thì ban Thụy Hiệu là Hoằng Đức Viên Minh Quốc Sư (), và Minh Trị Thiên Hoàng () là Thường Tế Đại Sư (). Trước tác của ông để lại có Truyền Quang Lục () 2 quyển, Oánh Sơn Hòa Thượng Thanh Quy () 2 quyển, Tọa Thiền Dụng Tâm Ký () 1 quyển, Tam Căn Tọa Thiền Thuyết () 1 quyển, v.v.