Ni Cán Tử Ngoại Đạo

《尼幹子外道》 ní gàn zi wài dào

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Ni kiền tử, Phạm: Nirgrantha-putra, gọi đủ: Nirgrantha-jĩàputra. Pàli: Nigaịỉha-putta. Cũng gọi Ni kiền đà tử Ngoại Đạo, Ni kiền tử Ngoại Đạo, Ni kiền đà phất trớ la Ngoại Đạo, Ni kiền phất đà đát la Ngoại Đạo, Ni kiền tử luận sư. Một trong Lục sư Ngoại Đạo, 1 trong Tứ chấp Ngoại Đạo, 1 trong 16 tông Ngoại Đạo, 1 trong 20 thứ Ngoại ĐạoẤn Độ đời xưa. Vì Ngoại Đạo này chủ trương tu Khổ Hạnh để không bị vấn đề cơm áo ở Thế Gian gò bó, hầu xa lìa sự bức bách của Phiền Não và sự ràng buộc trong 3 cõi, cho nên tên tiếng Phạm của Ngoại Đạo này được dịch là Li hệ (lìa trói buộc), Bất hệ, Vô kế, Vô kết. Lại vì Ngoại Đạo này không mặc quần áo chi cả và cũng không lấy thế làm hổ thẹn, cho nên bị người đời cười chê mà gọi là Vô tàm Ngoại Đạo(Ngoại Đạo không hổ thẹn), Lõa Hình Ngoại Đạo(Ngoại Đạo ở truồng). Ông tổ khai sáng đạo này là Lặc Sa Bà (Phạm: Fwadha), đến Ni kiền đà nhã đề tử là tổ Trung hưng. Đời sau, Ngoại Đạo này được gọi là Kì na giáo (Phạm: Jaina). Những người Xuất Gia tu tập Khổ Hạnh và thực hành giáo lí của phái này thì gọi chung là Ni kiền đà. Sau khi Ni kiền đà nhã đề tử Thị Tịch, Ngoại Đạo Ni kiền tử bị chia làm 2 phái: Phái Không y (Phạm: Digambara ) và phái Bạch y ( Phạm: Zvetàmbara). Phái Không y chủ trương không mặc quần áo mà ở truồng, thông thường gọi là Lõa Hình Ngoại Đạo, Lộ Hình Ngoại Đạo. Còn phái Bạch y thì lưu hành ở miền Bắc Ấn Độ, vì khí hậu lạnh nên mặc áo trắng(bạch y)để chống rét và có lẽ đây là Nguyên Nhân đưa đến việc chia rẽ thành 2 phái. Đại Đường Tây Vực Kí quyển 3 (Đại 51, 855) nói: Những pháp do Bản sư của phái này giảng nói, phần nhiều là trộm nghĩa trong kinh Phật, tùy theo loại mà thiết Lập Pháp, bắt chước đặt ra phép tắc; người lớn gọi là Bật Sô, người nhỏ gọi là Sa Di, uy nghi luật hạnh rất giống với pháp của chúng tăng, chỉ khác với chư tăng là người của phái này để lại một ít tóc và ở truồng, hoặc có mặc áo thì dùng màu trắng để cho khác 1 chút. Tượng Thiên sư của phái này cũng bắt chước giống như tượng đức Phật, đầy đủ tướng hảo, nhưng y phục thì khác. Cứ theo Huyền Ứng Âm Nghĩa quyển 10, thì Ngoại Đạo này cạo tóc, lõa thể, không cất chứa vật gì, dùng tay Khất Thực chứ không có bát, hễ được vật gì thì bỏ vào bát tay và ăn liền. Vì có rất nhiều điểm giống với Phật giáo, cho nên đã có thời các học giả Âu tây cận đại cho rằng Kì na giáo đã thoát thai từ Phật giáo mà ra, nhưng sau khi nghiên cứu 2 Tông Giáo này 1 cách sâu sát mới biết lúc đầu giữa 2 Tông Giáo này có những điểm khác xa nhau. Như Kì na giáo phủ nhận giáo quyền Phệ Đà, cấm chỉ cúng tế, không cho giết hại..., những điểm này giống với Phật giáo; còn như khuyến khích Khổ Hạnh, Phân Biệt 4 chủng tính, thì giống với Bà La Môn mà khác xa với Phật giáo. [X. kinh Tạp a hàm Q. 5., 21; kinh Ni kiền trong Trung a hàm Q. 4.; kinh Tát già ni kiền tử sở thuyết Q. 1.-10; Chú Duy Ma Kinh Q. 3.; Bách Luận Sớ Q.thượng; Câu xá luận quang kí Q. 15.; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 1., phần cuối]. (xt. Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử).