Nhị Giác
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
I. Nhị Giác. Chỉ cho Bản Giác và Thủy Giác.
1. Bản Giác: Tính giác trong thức A lại da vốn xa lìa vọng niệm, đó là Pháp Thân Bình Đẳng của Như Lai, gọi là Bản Giác.2. Thủy Giác: Tính giác bị vô Minh Huân tập, mê mờ trong nhiều kiếp, nên giác mà chẳng giác, sau nhờ công tu hành mới dần dần giác ngộ.
II. Nhị Giác. Chỉ cho Độc giác và Đại Giác.
1. Độc giác, cũng gọi Duyên Giác, Bích Chi Phật. Người quán xét sự vô thường của các pháp, như hoa tàn lá rụng, thấu suốt lí 12 Nhân Duyên, không thầy chỉ dạy mà tự giác ngộ.
2. Đại Giác: Danh xưng khác của đức Phật.[X. luận Câu xá Q. 25.].
III. Nhị Giác. Chỉ cho Đẳng Giác và Diệu Giác. Hai giác trong 52 giai vị tu hành của Bồ Tát Đại Thừa.
1. Đẳng Giác: Giai vị thứ
51. 2. Diệu Giác: Quả vị thứ
52. [X. Giáo thừa Pháp Số Q. 2.].
IV. Nhị Giác. Chỉ cho Tự giác và Giác tha.
1. Tự giác: Tự mình giác ngộ thực tướng các pháp.
2. Giác tha: Đem Công Đức tự giác của mình làm cho khắp tất cả Chúng Sinh đều giác ngộ. [X. Đại Minh Tam Tạng Pháp Số Q. 4.].
V. Nhị Giác. Chỉ cho Chân Giác và Vọng giác.
1. Chân Giác (Quán sát giác): Trí quán xét Thể Tướng của hết thảy pháp chẳng phải 1 cũng chẳng phải khác mà giác ngộ.
2. Vọng giác (Vọng tưởng tương nhiếp thụ kế trước kiến lập giác): Giác trí dùng vọng tưởng tính lường phân Biệt Tướng của 4 đại (đất, nước, lửa, gió)rồi nắm giữ lấy mà kiến lập vọng pháp. [X. kinh Lăng già a bạt Đa La bảo Q. 2.].
1. Bản Giác: Tính giác trong thức A lại da vốn xa lìa vọng niệm, đó là Pháp Thân Bình Đẳng của Như Lai, gọi là Bản Giác.2. Thủy Giác: Tính giác bị vô Minh Huân tập, mê mờ trong nhiều kiếp, nên giác mà chẳng giác, sau nhờ công tu hành mới dần dần giác ngộ.
II. Nhị Giác. Chỉ cho Độc giác và Đại Giác.
1. Độc giác, cũng gọi Duyên Giác, Bích Chi Phật. Người quán xét sự vô thường của các pháp, như hoa tàn lá rụng, thấu suốt lí 12 Nhân Duyên, không thầy chỉ dạy mà tự giác ngộ.
2. Đại Giác: Danh xưng khác của đức Phật.[X. luận Câu xá Q. 25.].
III. Nhị Giác. Chỉ cho Đẳng Giác và Diệu Giác. Hai giác trong 52 giai vị tu hành của Bồ Tát Đại Thừa.
1. Đẳng Giác: Giai vị thứ
51. 2. Diệu Giác: Quả vị thứ
52. [X. Giáo thừa Pháp Số Q. 2.].
IV. Nhị Giác. Chỉ cho Tự giác và Giác tha.
1. Tự giác: Tự mình giác ngộ thực tướng các pháp.
2. Giác tha: Đem Công Đức tự giác của mình làm cho khắp tất cả Chúng Sinh đều giác ngộ. [X. Đại Minh Tam Tạng Pháp Số Q. 4.].
V. Nhị Giác. Chỉ cho Chân Giác và Vọng giác.
1. Chân Giác (Quán sát giác): Trí quán xét Thể Tướng của hết thảy pháp chẳng phải 1 cũng chẳng phải khác mà giác ngộ.
2. Vọng giác (Vọng tưởng tương nhiếp thụ kế trước kiến lập giác): Giác trí dùng vọng tưởng tính lường phân Biệt Tướng của 4 đại (đất, nước, lửa, gió)rồi nắm giữ lấy mà kiến lập vọng pháp. [X. kinh Lăng già a bạt Đa La bảo Q. 2.].