Nhị Giả
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
I. Nhị Giả. Chỉ cho Vô thể tùy tình giả và Hữu Thể thi thiết giả.
1. Vô thể tùy tình giả: Người Thế Gian chấp cảnh ở ngoài tâm là thực ngã, thực pháp, thể của các pháp này chỉ là vọng tình, thuộc tính Biến kế sở chấp, chứ không có thực thể, nhưng người đời theo vọng tình mà chấp ngã pháp hư giả là thực có, nên gọi là Vô thể tùy tình giả.
2. Hữu Thể thi thiết giả: Nương theo tính Y tha khởi mà giả bày đặt ra ngã pháp, tức là Kiến Phần và tướng phần do thức bên trong biến hiện là pháp Y tha, từ Chủng Tử thực mà sinh ra, có Thể Dụng thực, căn cứ vào Thể Dụng này mà giả đặt cho cái tên ngã pháp, cho nên gọi là Hữu Thể thi thiết giả. Đây là danh từ ngã pháp mà Phật giáo thường dùng. [X. luận Thành Duy Thức Q. 1.; Tông Kính Lục Q. 67.].
II. Nhị Giả. Chỉ cho Sinh Tử giả và Kiến lập giả(Thuật ngữ của tông Thiên thai).
1. Sinh Tử giả, cũng gọi Vọng giả. Nghĩa là Chúng Sinh vì Mê Vọng, chẳng biết lí không và Bình Đẳng của các pháp, nên mới cho các pháp là có thật.
2. Kiến lập giả, cũng gọi Thi thiết giả. Nghĩa là bậc Thánh biết rõ lí không và Bình Đẳng của các pháp, dùng mắt xuất Thế Gian, Quán Chiếu Sinh Tử giả tức là lí không mà cho các pháp là có giả. [X. Kim Quang Minh Huyền Nghĩa thập di kí Q. 5.].
1. Vô thể tùy tình giả: Người Thế Gian chấp cảnh ở ngoài tâm là thực ngã, thực pháp, thể của các pháp này chỉ là vọng tình, thuộc tính Biến kế sở chấp, chứ không có thực thể, nhưng người đời theo vọng tình mà chấp ngã pháp hư giả là thực có, nên gọi là Vô thể tùy tình giả.
2. Hữu Thể thi thiết giả: Nương theo tính Y tha khởi mà giả bày đặt ra ngã pháp, tức là Kiến Phần và tướng phần do thức bên trong biến hiện là pháp Y tha, từ Chủng Tử thực mà sinh ra, có Thể Dụng thực, căn cứ vào Thể Dụng này mà giả đặt cho cái tên ngã pháp, cho nên gọi là Hữu Thể thi thiết giả. Đây là danh từ ngã pháp mà Phật giáo thường dùng. [X. luận Thành Duy Thức Q. 1.; Tông Kính Lục Q. 67.].
II. Nhị Giả. Chỉ cho Sinh Tử giả và Kiến lập giả(Thuật ngữ của tông Thiên thai).
1. Sinh Tử giả, cũng gọi Vọng giả. Nghĩa là Chúng Sinh vì Mê Vọng, chẳng biết lí không và Bình Đẳng của các pháp, nên mới cho các pháp là có thật.
2. Kiến lập giả, cũng gọi Thi thiết giả. Nghĩa là bậc Thánh biết rõ lí không và Bình Đẳng của các pháp, dùng mắt xuất Thế Gian, Quán Chiếu Sinh Tử giả tức là lí không mà cho các pháp là có giả. [X. Kim Quang Minh Huyền Nghĩa thập di kí Q. 5.].