Nhất Thời

《一時》 yī shí

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: nghĩa là một lúc, một thời, một thưở nọ, v.v. Lúc đức Phật tại thế, xã hội Ấn Độ đang còn thời đại hình thức bộ lạc, rất nhiều các nước lớn nhỏ khác nhau; mỗi nước đều có lịch pháp (cách thức tính ngày giờ) khác nhau. Dưới thời đại nhà Thương Chu (, 1134-250 trước công nguyên) của Trung Quốc cũng có lịch pháp, nhưng đồng nhất với nhau. Hai chữ “Nhất Thời” này là thời gian Cảm Ứng Đạo Giao giữa Chúng Sanh và chư Phật; như thời gian trôi qua, có thể xoay trở lại Quá Khứ. Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (, 538-597), người sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, vị Cao Tăng nhà Tùy (, 581-618), cách thời đức Phật hơn cả ngàn năm. Vậy mà khi Đại Sư đọc đến Phẩm Dược Vương () của Pháp Hoa Kinh thì Nhập Định, thấy đến chỗ Phật đang thuyết giảng Pháp Hoa Kinh tại Linh Thứu Sơn (Sanskrit: Gṛdhrakūṭa, Pāli: Gijjhakūṭa ) và lắng nghe Thuyết Pháp suốt cả hội. Sau khi ra khỏi định, Đại Sư Bảo chúng Đệ Tử hay rằng Hội Linh Sơn vẫn còn đó vẫn chưa bao giờ tan rã. Chữ “nhất ()” ở đây còn có nghĩa là “Nhất Tâm ()”. Nhất Tâm chính là Chân Tâm, tức không có sự hiện hữu của thời gian Quá Khứ, hiện tại hay tương lai gì cả. Cho nên, người Nhật vẫn có câu ngạn ngữ xử thế là “Hito wo ugokasu ni wa magokoro wo motte (かすにはって, muốn làm động lòng người thì hãy lấy Chân Tâm mà sống).”